Friday, September 17, 2010

KỲ VỌNG ẢO


Kỳ vọng là một động lực phát triển của con người, của xã hội. Một nhà tâm lý học mới viết trên báo về những điều đại loại như vậy. Xã hội kỳ vọng vào một tầng lớp, một thế hệ khiến cho những thành viên thuộc tầng lớp, thế hệ đó phải tích cực phấn đấu. Cha mẹ kỳ vọng vào con cái, khiến cho con cái phải cố gắng, phải vươn lên. Đó là lẽ thường. Nó chỉ không thường khi đó là những kỳ vọng ảo. Kỳ vọng ảo làm thui chột, thậm chí giết chết phát triển. Có kỳ vọng tức có người tạo ra kỳ vọng và người được kỳ vọng. Người tạo ra kỳ vọng ảo có những ước muốn, xa vời, không tưởng, thậm chí ích kỷ khiến cho người được kỳ vọng như trở thành tù nhân bị giam trong những ước vọng không thật.


Kỳ vọng về 1 triệu tấn đường/năm là không thật, khiến cho ngành mía đường điêu đứng. Người ta muốn có một thế hệ giỏi giang siêu đẳng nên chúng ta có toàn học sinh giỏi. Ồ, không! Xuất sắc. Vì giỏi chỉ là trung bình. Cha mẹ muốn con mình hơn người, hơn hẳn cơ đấy nên đã xóa từ nghỉ hè trong tự điển. Thậm chí nhiều người từng phê phán chuyện này cũng không hẳn chấp nhận bỏ cuộc đua (không dám thì đúng hơn). Vì chúng ta bị những kỳ vọng ảo bao vây. Những áp lực của những mong muốn không tưởng, dày đặc quanh ta khiến cho những người còn đôi chút tỉnh táo, đôi khi hòai nghi: mình có sai lầm chăng? Có quá ít người đúng giữa nhiều người sai thì người đúng cũng trở thành sai. Và...không ai thích mình sai. Và những kỳ vọng ảo lại có đất sống.


Một người từng làm nhiều chuyện hay nên được ông bạn tin cậy, kỳ vọng anh ta sẽ dễ dàng làm nên kỳ tích khác. Thế là anh nhận một công việc, cố sức chứng tỏ và cuối cùng bị vây bởi kỳ vọng mà chính anh nay nhận ra là nó ảo. Thằng con bảo cô giáo nói nó làm toán đúng, giỏi. Cha mẹ liền đặt kỳ vọng cho nhà toán học tương lai và thế là mùa hè của nó bị cách ly bằng những lớp học hè, bằng sách toán nâng cao. Người ta mơ thị xã mình là một đô thị như trong phim (cứ cho là vậy) và thế là... qui hoạch! Biết con mình quá tải, biết con mình mệt nhưng chung quanh ai cũng đang đào tạo nhà tóan học, nhà văn tương lai...chẳng lẽ mình lại...Thôi ráng lên con nhé!

Trên mạng, tôi thấy có một người mẹ, quyết cho con vui chơi "thả giàn" kỳ hè này vì không muốn làm mất tuổi thơ của con. Một người cha chặc lưỡi khi không có quê nội hay ngoại cho con về nghỉ hè...thay vì cho chúng giải trí bằng cách đi học hè...


Bao giờ thì anh kia dũng cảm chỉ ra những kỳ vọng ảo vây quanh cho bạn mình thấy để mà từ chối công việc quá sức mình, bao giờ người cha không còn mơ con là thần đồng, bao giờ xã hội không còn mong muốn một cách duy ý chí về một thế hệ đầy thiên tài, bao giờ…thì những giá trị thực mới đến và mọi việc sẽ diễn ra như nó phải như vậy. Xã hội sẽ tốt đẹp hơn, ít stress hơn, con cái chúng ta sẽ hạnh phúc hơn với tuổi thơ và...những kỳ vọng sẽ thật hơn.

KHÓI BỤI ĐÔ THỊ


Có mấy người bạn ở Cần Thơ bảo mỗi khi đi Sài gòn, trở về tới bến phà cảm thấy trong lòng rất là khoan khoái. Vì vốn đã quen với yên tĩnh, chậm rải nên khi phải sống trong cảnh chạy đua theo kiểu "rush hour", tất bật tất cả đều không chịu nổi. Một ông bạn ở thành phố kể về công việc hàng ngày của anh nghe mà bắt rùng mình. Sáng 5.30' cả gia đình đều đã thức dậy, mấy đứa nhỏ cầm một hộp sữa, cái bánh ngọt mua sẳn rồi lên xe cho bố chở từ Gò Vấp về Thị nghè học. Anh đi làm suốt, trưa ăn qua quít đâu đó. Chiều 6 giờ mới đón con, cho đi học thêm. 9 giờ tối cả nhà mới gặp nhau. Sáng hôm sau kịch bản lặp lại.


Bây giờ Cần Thơ tuy chưa đến nổi như thế, nhưng những nhịp điệu đô thị, những khói bụi phố phường cũng đang dần dần bao lấy thành phố. Tôi cũng trở về Cần Thơ sau một chuyến công tác ở Sài Gòn náo nhiệt. Con sông Hậu sóng vỗ phập phồng. Gió mát rười rượi từ dòng sông, làm cho tâm hồn người cũng mát lây. Phà cặp bến, hít một hơi sảng khoái: về nhà! Khói từ mấy chiếc xe tải đang gồng mình leo phà đen ngòm làm cháy phổi. Mấy người bán hàng cách đó cả cây số nói chỉ cần nhìn thấy khói bốc lên từ xa là biết phà cặp bến. Mấy chiếc xe lam, xe Daihatsu nổ máy bành bạch, nhả khói cuồn cuộn. Thật tình mà nói, Cần Thơ không bị khói ô nhiễm từ những nhà máy công nghiệp mà vì khói từ những cuộc sống đời thường.

Người dân trên đoạn đường 30/4 đang mở rộng phải hứng bụi từ cả năm nay do đường làm chưa xong. Xe chở đất đá chạy rầm rập rải bụi suốt ngày. Mỗi khi đi ngang đoạn này mọi người đều ngưng thở chạy qua cho nhanh. Nhà tôi nằm khuất trong một con hẻm nhỏ, xa đường giao thông. Vậy mà một ngày đi vắng nhà khi trở về bụi đóng hàng lớp. Mấy căn nhà trong xóm, xây cất dở dang, không che chắn, bụi xi măng bay mịt mù. Ở ngoài đường lớn nhiều công trình to trộn xi măng ngợp trời, có che phủ gì đâu. Phát triển mà mỗi người chịu một chút chứ. Người lạ đến đây hay giựt mình vì tự nhiên bổng thấy trên đường có một xe đẩy lù lù đi tới khói bay mịt mù. Té ra đây là xe bán bánh mì thịt nướng, người dân ở đây cũng quen rồi. Buổi sáng, một góc đường bổng bốc khói khiến mấy người tập thể dục sớm đâm hoảng, sợ hỏa hoạn. Thế nhưng đó là lò nướng thịt của một tiệm cơm, bày thịt ra vỉa hè nướng thoải mái vì nướng trong nhà khói không chịu nổi, đem ra ngoài cho mỗi người chịu một chút. Tiệm may nằm gần đó khóc không ra tiếng vì khi giao hàng cho khách, cái áo dài có mùi thịt nuớng như có ai mặc rồi... Dân choai choai cũng tham gia tích cực, chúng móc bô cho ra nhiều khói, rồi xài phụ gia trong xăng cho khói có mùi thơm, vậy mới hấp dẫn mấy em. Khói xe "su" còn thơm gấp mấy lần mấy anh yên hùng.

Vậy đó khói và bụi len dần vào cuộc sống thường nhật của người dân Cần Thơ, vốn yên bình lâu nay. Với quan điểm, mỗi người chịu một ít cái hệ quả của phát triển, của đô thị hóa, người ta vứt ra đường mọi thứ tạp nhạp, kể cả "dẫn chó ra đường" ... cho gọn. Cái miệng cống gần một quán cà phê đầy ắp những quả dừa rỗng, cho tiện tay ấy mà...Bảo sao nước không lụt, đường không ngập.

Một thành phố công nghiệp và môi trường xanh, sạch đâu có mâu thuẫn với nhau. Người dân ai cũng mong Cần Thơ sẽ phát triển thành một trung tâm công nghiệp của khu vực nhưng xanh sạch như Singapore. Điều ước này đâu khó lắm, phải không?

MỘT THOÁNG HƯƠNG XUÂN


Mùa xuân ở miền Nam không có cái lạnh của miền Bắc, nhưng lại có cái nắng đầu chì chiết. Cái nắng mà bầu trời xanh trong không có chút mây nào che chắn. Sau một tí se se của gió mùa Đông bắc vào độ Noel, cái nắng về không phải để báo xuân mà báo Tết. Tây và ta cùng ăn Tết dương lịch, nhưng đến Tết Nguyên Đán thì chỉ có ta ăn mà thôi. Mấy ngày mùng, dân mình cười đùa tí toét trên phố còn mấy ông tây lững thững dọc đường, mắt nhìn ta ăn tết một cách hờ hững. Chả là mấy ngày nghỉ này là bonus khi sang làm việc ở Việt nam. Thế nhưng nhìn mặt mấy ông, coi chán chường lắm. Chắc thấy người ta ăn tết vui nên nhớ nhà.


Nhớ lúc còn nhỏ, Tết về háo hức lắm, chứ không như bây giờ, nghe nói tết chỉ hình dung ra những ngày nghỉ ngắn ngũi mà không phải bận tâm đến công việc. Thế thôi. Chẳng còn cái không khí sắm sửa cho tết. Bởi vì, mọi thứ đều sẳn sàng ngay trong những ngày bình thường có thiếu món gì đâu. Chẳng đợi tết đến mới có bánh Tét, bánh chưng…dưa hấu thì bán quanh năm không hết. Mấy tết gần đây, chỉ mua cho bọn trẻ nửa ký mứt bí, nửa ký mứt dừa, vậy mà qua Rằm tháng Giêng phải bỏ vì không ai ăn. Cái thú mặc áo mới ngày Tết cũng không còn. Vì bây giờ đâu có khăn gì để mặc một bộ đồ mới may sẳn. Chả bù cho cha mẹ chúng ngày xưa chỉ chờ dịp Tết để có bộ cánh mới. Thật là cái gì sẳn quá, đầy đủ quá thì không còn quý kể cả hương xuân! May mà có chợ hoa làm cho mấy ngày tết có cái gì đó khác thường.


Mấy đứa nhỏ thích lắm, đưa ông Táo xong chúng hầu như đã nghỉ học hết. Mà nghỉ tết thì sướng hơn nghỉ hè nhiều vì không phải học thêm. Ngay lúc này thường thì chợ hoa lại được bày ra. Tối tối, được cha mẹ đưa ra chợ hoa chơi chả mua gì nhưng thích, thích lắm. Mà thích thật, giữa thành phố chợt có một rừng hoa. Rồi ông đi qua bà đi lại, đông ơi là đông. Phải khen và biết ơn vì mấy ông nhà vườn hay thật- mà các loài hoa cũng hay- cứ đúng mấy ngày tết ta thì hoa mới nở đồng loạt, chứ tết dương lịch thì có thấy gì đâu. Hoa mai thì độc đáo hơn, rằm tháng Chạp lặt hết lá thì mùng một tết trổ hoa (ngoài Bắc thì có hoa đào, cũng thế). Kể cũng lạ. Không có mai hay đào chắc là mình không biết có tết. Bên Nhật nghe đâu bây giờ người ta chỉ ăn tết theo Dương lịch, nói dại, nhỡ ta cũng thế không biết mấy ông nhà vườn có làm hoa nở vào dịp Noel được không.

Thằng con chợt hỏi bao giờ thì về Nội. Chợt bâng khuâng và vui vui khi nghỉ đến những ngày tết được về quê. Nơi tuổi thơ yên ả trôi qua… hồi cả chục năm trước. Vả lại, một năm có mấy khi về quê. Nay có dịp về thăm cũng tiện bề. Nhiều gia đình anh em cùng hẹn nhau về, và đông quá nên phải nấu thứ này bày thứ kia mới có cái mà ăn mà bù khú. Thế là bếp được nhóm lên mà bếp là nếp nhà, là quê hương mà. Còn bạn bè họp mặt gặp nhau hàng ngày, vậy mà í ới nhau trong mấy ngày tết lại có cái thú khác. Mồng một, mồng hai…nhiều người về quê, chỉ còn vài ông quê xa, hoặc "không còn quê" ở lại thành phố. Vắng có mấy ngày, vậy mà gặp nhau mừng như gặp Việt kiều. Ông bạn vong niên bức xúc lắm. Tết mà thêm mấy ngày nữa, chắc tao chết vì chán.

Không có những cái hương vị quê nhà mang đầy chất tinh thần như vậy thì chắc là Tết buồn lắm. Bởi vật chất của Tết thì có nhiều, thừa mứa, khi nào cũng có. Chỉ có cái hương, cái hoa…của ngày Xuân là không phải lúc nào cũng có. Tôi có cách riêng để nâng niu chúng. Trồng mấy cây mai để mấy đứa nhỏ lặt lá (chỉ 5 phút là xong), khiến chúng háo hức với Tết hơn. Mấy tháng cận tết không cho mặc thêm đồ mới. Rồi cho chúng về quê. Rồi họp mặt bạn bè vào mùng Năm (có hơi xui một chút, nhưng không sao)… phải nuôi dưỡng cho chúng một chút hương vị tết, hương vị Xuân- để sau này chúng còn có cái để gọi là ký ức. Nếu không thì ngày tết chỉ còn biết chạy rong đón cái nắng rát mặt. Còn gì là Hương Xuân.

Hương vị quê nhà: HƯƠNG BIỂN

Quê ngoại tôi nằm ở ven biển một tỉnh miền Tây-Trà Vinh. Một vùng đất khó, cho đến nay người dân vẫn còn nghèo; đặc biệt là các vùng nông thôn xa xôi. Những ngày cận Tết như thế này, gió từ biển thổi vào phần phật như muốn cuốn lốc hết thảy mọi thứ, cùng với cát. Cát thổi vào mái và vách lá của những ngôi nhà nghe rồn rột. Vậy mà khi gió cát về thì mọi người lại rộn ràng hẳn ra. Những cánh đồng dưa hấu xanh mướt dưới nắng trời, nhú lên những quả con con. Khi tiếng quết bánh phồng vang lên phùm phụp đâu đó thì ngoài đồng cá kèo đã nổi đầu khắp nơi. Một lần về Duyên hải, quê ngoại xa lắc, mấy đứa nhỏ con cậu con dì đi bắt cá kèo cho ăn. Chúng làm một thòng lọng bằng chỉ may, rồi rà ngay trước đầu mấy con cá kèo giật mạnh. Cứ tưởng trò chơi như vậy biết chừng nào mới có ăn; vậy mà trong chốc lát chúng bắt được cả nồi cá kèo mập núc ăn cả ngày không hết. Chứ mấy cái xà ngôn đàng sau ruộng mỗi lần trút ra chỉ có nuớc đem bán mới hết! Một chiếc nồi đất đun bằng rơm của vụ mùa vừa gặt xong, bốc lên mùi ngay ngáy của rạ mới. Cá kèo còn sống nhảy tưng tưng được nhanh tay bỏ vào nồi đậy kín nắp lại, chỉ sau vài phút chúng chết hết. Cho nước mắm rươi vào đun sôi, vớt cho đến hết bọt là chín tới. Không bột ngọt, không đường và phải là mắm rươi với cá kèo còn sống thì mới đúng. Nước mắm làm từ những con rươi biển, có cái mùi đặc trưng của vùng duyên hải. Cá kèo kho khi còn sống mới làm cho con cá giữ vị ngọt và thịt mềm mại, cộng với cái mật đắng trong bụng cá làm cho cá kèo trở thành loại cá độc chiêu, chỉ mình nó mới có. An cá kèo phải ăn nguyên con mới lịch sự, còn bẻ khúc đầu, nơi có cái mật thì khúc đuôi để ai ăn. Ở thành người ta lấy dấm, muối làm cho cá hết nhớt, rồi mới đem kho, khiến cho con cá khô quắt và cứng. Độc món cá kèo kho ăn với cơm nóng, trên mâm có thêm một dĩa dưa hấu mới hái trên rẫy về là một điều hạnh phúc. Hạnh phúc thật đơn giản và bình thường như nó vốn vậy, không chỉ của nguời dân vùng biển, mà còn của những người lưu lạc ở chốn thị thành trêu ngươi nay lại tìm thấy sự quen thuộc nơi ký ức sâu thẳm.

Chiều xuống ở vùng này, gió càng tợn. Những cây dừa cao, trĩu trái cứ nằm xuống đứng lên trông hãi lắm. Gió càng nhiều, người ta càng cười. Vì họ chắc rằng ngày mai tép sẽ đầy ắp xà ngôn. Những con tép bạc đất, mình to bằng ngón tay, trong xanh, búng mình chong chóc trong rổ. Dân ở đây bảo tép sinh ra từ đất. Vì ruộng khô nẻ, cứ có nuớc vào là có tép. Loại tép đó lột hết vỏ lấy noãn bỏ vào trong một trái dừa. Loại dừa chưa khô nhưng cũng khá già, thường dùng để làm mứt. Nuớc dừa này như có ga, uống nghe gay gay. Chừng mười lăm phút, noãn tép đã đỏ rần trong trái dừa. Muối hột đem ra đâm nhỏ với ớt hiểm xanh mọc trong bụi tre. Mấy cọng rau răm, vấp cá sau hè được hái và bày ra quanh mâm. Gắp con tép trong trái dừa chấm vào muối ớt, đưa vào miệng cùng với một cọng rau răm. Vị ngọt của biển dạt dào trong miệng. Một ngụm rượu nếp (trông cứ đùng đục thế nào ấy) đẩy cái ngọt và sùng sục của biển vào tận bên trong. Hai tay cứ vỗ đùi đôm đốp. Thật hào sảng, thật đã! Trong xóm, từng ngọn lửa rơm nướng bánh phồng chợt bùng, chợt hiện. Gió phần phật gợi lên một thời khai phá của cha ông.

Những món ăn vùng quê không chế biến cầu kỳ, không bày biện công phu nhưng cứ xoắn xuýt trong tâm hồn, trong ký ức người đi xa. Ở một góc khuất nào đó, thỉnh thoảng nó chợt hiện lên. Và khi có ai nhắc tới, hồn quê - vị ngọt của món ăn như cứ trào lên trong trái tim và cả trên đầu lưỡi.


Tản mạn: Ở TIỆM HỚT TÓC


Mỗi lần đi hớt tóc đối với tôi là một lần đi xuống đời, một lần đi thư giãn. Thư giãn thật chứ không phải trong ngoặc kép. Một cái tiệm hớt tóc nhỏ ở một góc con đường. Một con đường hẹp, đầy ổ gà mà cả gần chục năm không thấy ai nói chuyện sửa sang gì cả. Cả ba cha con mỗi lần hớt tóc phải đi 2-3 cây số, nhưng tiền công cả lượt chỉ tốn có 10.000 đồng. Mấy ông bạn chế nhạo ham hớt tóc rẻ mà tốn tiền xăng đi xa còn hơn. Thật ra, đâu phải vì ham rẻ mà đến đây. Chỉ vì quen rồi, ai hớt cũng không hài lòng. Anh thợ hớt cho mình đã biết ý rồi. Cứ đến nơi là leo lên ngồi khỏi phải dặn. Cái tiệm nói cho sang, chứ thật ra là một cái chòi nhỏ đủ che nắng mưa, có phần nhếch nhác. Nhưng người đến đây toàn là người quen cả. Hớt tóc riết rồi quen ấy mà. Có ông bác sĩ, có anh kỹ sư, có cả mấy cậu sinh viên...cả mấy chú xe ôm. Người ngồi hớt tóc lẫn kẻ ngồi chờ, ai cũng góp một câu vào câu chuyện đời. Lúc thì vụ án này, lúc thì chính sách nọ. Anh thợ hớt tóc thi thoảng châm thêm vài câu như khích mọi người bàn luận. Người ta nói rượu vào lời ra, chứ chưa nghe ai nói hớt tóc, lời ra! Một cái xã hội to đùng chốc bỗng được khái quát thành những câu chuyện trong quán hớt tóc.


Tôi có thói quen đọc báo xong là mang quẳng vào tiệm đề anh cho khách đọc. Không ai đọc báo kỹ bằng những người ngồi chờ hớt tóc. Qua vài ngày là mấy tờ báo cáu bẩn, nhàu nát như giẽ rách. Anh xe ôm vỗ đùi cái đét: thấy chưa, làm ẩu thế nào cũng bị bắt mà. Ê! ông nhà báo, bữa nào viết vụ này nhe. Anh nhà báo cười hì hì. Còn ông bác sĩ ngồi nghe ậm ừ, rồi nói bắt quàng sang chuyện chiến tranh Iraq... Mọi chuyện trên đời đều được bàn luận tại đây. Có lúc bí quá, mặc dù tóc còn ngắn tôi cũng cố đi hớt tóc một buổi để tìm ý viết bài! Định bụng sẽ đề nghị mấy ông làm chính sách vĩ mô, hôm nào đi hớt tóc bụi một bữa...Người nói hết chuyện trong bụng, nói thoải mái. Hớt xong cái đầu là nhẹ nhỏm. Nhẹ cả trong lòng. Thế nên ai cũng coi chuyện đi hớt tóc ở tiệm này là thư giãn.


Một hôm trời mưa, con đường ngập nước. Chiếc xe tải chạy ngang qua làm một vạt nước bắn tung vào tiệm. Thế là hớt không cần xịt nước. Kẻ thì rủa xả, người thì cười ha hả...rồi thì chuyện con đường đau khổ mấy năm trời dân kêu réo vẫn không ai ngó ngàng được đem ra mổ xẻ. Văn phòng của một tờ báo lớn cũng nằm trên con đườngnày, nhưng đăng bài biết bao lần mà có kết quả gì đâu. Chiếc xe tải thoát nạn, người ta chuyển sang chửi rủa những ai có trách nhiệm. Tôi hỏi đùa: mấy ông không giữ ý gì cả, cứ bô bô chửi đổng. Không sợ à. Anh thợ hớt tóc cười: cùng phe mà. Ai vào đây đều cùng phe mình cả, vì nếu khác phe người ta đã đi chỗ khác hớt rồi. Anh cười hà hà.


Sáng chủ nhật, tôi chở thằng nhỏ đi hớt tóc chuẩn bị khai trường. Vả lại, lâu rồi cũng đâm nhớ những người góp chuyện, quen nhau vì hớt tóc. Nhớ cái không khí sang sảng của cái tiệm hớt tóc nhỏ mà chứa đầy những câu chuyện lớn của xã hội. 9-10 giờ mà tiệm vẫn còn đóng, không như mọi khi mở cửa từ sáng sớm. Hỏi ông cụ bên cạnh. Ông bảo: nó chết rồi chú à. Sụp ổ gà, té xe chết hồi hôm. Bàng hoàng và thẩn thờ. Một thế giới đã bị mất. Một người ra đi. Cái xã hội nhỏ không còn người tụ tập góp chuyện. Con đường vẫn còn ngập nước. Ở đầu đường sáng nay mấy chiếc xe ủi đã bắt đầu san lắp để làm đường. Nhưng anh thợ hớt tóc thì không chờ được.

ĐI HỘI CHỢ NƯỚC NGOÀI

Bây giờ người ta đi nước ngoài như đi chợ, vì đi lại dễ dàng. Thế nhưng đi hội chợ nước ngoài là chuyện khác. Đó những chuyến đi tìm cơ hội giao thương, đi làm ăn chứ có phải đi chơi đâu. Cái tâm lý đi bán hàng hội chợ còn ám ảnh mãi nên nhiều doanh nghiệp đi dự hội chợ nuớc ngoài cứ khệ nệ mang hàng đi bán thay vì đi tìm người để giúp mình bán (đại lý. đối tác bán hàng). Dĩ nhiên tìm được người bán hàng cho mình ở nước đó và cả bán được hàng tại hội chợ thì hay quá rồi.


Hội chợ Thương mại quốc tế Côn Minh-Asean vừa qua, Vinacafé và Bitis...sử dụng đại lý của mình tại chỗ để bán hàng và giới thiệu sản phẩm thật là lưỡng tiện. Có nhiều doanh nghiệp khác cũng mang hàng sang bán, được nhiều người ưa chuộng nhưng dân địa phương họ hỏi ở Côn Minh muốn mua thì sao? Không có câu trả lời tức là công sức bỏ ra đã phí hoài. Công ty May Tây đô mang hàng sang trưng bày tại hội chợ, ai đi xem cũng xuýt xoa đòi mua, nhưng ông Giám đốc cứ liên tục trả lời: hàng chỉ trưng bày thôi không bán. Xem chừng quá nhiều người hỏi, ông cho viết một tờ cáo bạch: hàng mẫu không bán! Nhưng ông vẫn có mặt suốt mấy ngày để tìm cái gì đó. Cuối cùng một công ty xuất nhập khẩu tại Côn Minh đã tìm đến thương lượng và nhận làm đại lý độc quyền, nhiều công ty khác tìm đến chào hàng cho ông các loại vải. Mục đích của ông là như vậy.


Có doanh nghiệp vào hội chợ cứ đi năn nỉ mấy doanh nghiệp mà gian hàng còn nhiều khoảng trống để xin được bày hàng vì họ thiếu chỗ. Hoá ra khi được rồi, họ lại bán cái chỗ đó cho mấy người bán đồ kim hoàn, đồ nhựa của Myanmar, Trung quốc...!


Nhiều tỉnh, cử hẳn một đoàn doanh nghiệp xem ra rất tốn kém. Nhưng nghe đâu đoàn chỉ toàn là cán bộ hội nông dân phụ nữ ...từ Việt Nam sang xem hội. Cũng có đoàn đạt nhiều hiệu quả, có đoàn thì không. Vì có đoàn đi hội chợ thật sự , lại có đoàn thì chỉ đi "hội" mà thôi. Vài doanh nghiệp có hàng tham gia triển lãm, trưng bày tại hội chợ nhưng gọi mãi: người đâu? không thấy. Thông tin chỉ là những tờ brochure vô tri, thiếu trước hụt sau. Tuy nhiên, tỉnh An Giang đã làm nên đình đám ở hội chợ Côn Minh do lãnh đạo đoàn theo rất sát các doanh nghiệp, giúp trưng bày, liên hệ tổ chức, tiếp khách...và các doanh nghiệp tham gia cũng chuẩn bị rất kỹ. Các gian hàng đầy ắp người. Chắc vì thế mà dân Trung quốc có biết ăn mắm bao giờ nay xúm lại mua mắm Bà Giáo Khỏe ào ào.


Cái đơn giản là danh thiếp và tài liệu giới thiệu mà nhiều doanh nghiệp còn quên. Huống hồ là việc phải có phiên dịch tiếng Trung quốc ở hội chợ Côn minh, khiến cho nhiều doanh nghiệp chạy đôn chạy đáo trong ngày khai mạc...Quả là không đơn giản. Có người đặt vấn đề rằng đi hội chợ (kể cả trong nước) là một hoạt động xúc tiến kinh doanh và quảng bá thương hiệu thường xuyên của một doanh nghiệp. Chính vì thế, hoạt động này phải được chuyên nghiệp hóa. Nên chăng?

GÓC NHÌN XUỐNG PHỐ


Quán cà phê quen thuộc lâu nay như một người bạn, bổng nhiên xa lạ. Xa lạ như chưa hề quen biết. Bên kia đường là công viên có hàng cây bàng ngã đầu vào nhau, đan xen nhau tạo thành cái mái che còn kín hơn cả những tấm tôn, mát rượi. Vậy mà sáng nay cái công viên kia trở thành bình địa. Các cây bàng nằm ngã sóng xoài vẫn đè lên nhau như chưa muốn rời xa nhau. Con đường sẽ được rộng mở, bộ mặt mới của đô thị rồi sẽ rộng ra, sẽ khoáng đãng. Các ngôi nhà nằm hai bên đường phấn khởi, nôn nao vì chỉ trong một ngày giá đã lên hàng chục cây. Chả là con đường rồi đây sẽ thành đại lộ. Trong cái đống đổ nát của công viên cũ vừa phá ra có cả bức tượng con ngựa bằng xi măng chỏng vó. Thằng nhỏ bán vé số thẫn thờ tiếc rẻ, thôi rồi nó không còn leo được lên lưng con ngựa mỗi khi chiều xuống, khi mà đài phát thanh đã công bố xong kết quả.


Không chỉ riêng thằng bé, những người uống cà phê trong quán cũng có cảm giác hụt hẩng. Những người vô tâm nhất cũng còn thốt lên tiếc rẻ những cây bàng trồng từ hơn chục năm nay. Cái bóng mát, cái màu xanh mát được thay bằng cái ánh nắng chói chan nhún nhẩy vì không có gì ngăn cản, có cả bụi mù. Con người khi đứng trước những thay đổi thường có những phản ứng bản năng là không chấp nhận ngay những thay đổi đó cho dù nó có hợp lý hay không. Khi phát hiện ra mình vừa bị mất thứ gì người ta thường hay thốt lên: không, nó mới vừa ở đây mà! Ông bạn tôi vừa mới chuyển công tác sang một vị trí mới cao hơn nhưng ông đã khóc trước mặt nhân viên khi công bố sự thay đổi này cho những người mà ông đã từng gắn bó gần chục năm. Nhưng rồi ông cũng sẽ phải đi, cái mới biết đâu sẽ làm ông hào hứng hơn. Cái công viên nằm giữa hai con đường kia phải nhường cho cái đại lộ thênh thang, cái tồn tại nhỏ bé phải nhường cho cái sự phát triển to lớn hơn. Và cái hụt hẩng tạm thời cũng chỉ như là cái giá cho sự phát triển. Chỉ mong sao cho cái giá không quá đắt.


Ly cà phê đá hôm nay tự nhiên trở nên khó nuốt đối với nhiều người đang ngồi trong quán...người ta đang bồi hồi hoài niệm về những cái mới đây còn tầm thường quá đỗi rồi chợt trở nên quý giá khi bổng nhiên không còn tồn tại. Đám đông hiếu kỳ bu quanh công trình bàn tán, chỉ trỏ. Mà có gì để mà bàn tán kia chứ. Một người thốt lên rằng mai mốt con đường này sẽ to lớn hơn thành đại lộ tầm cỡ. Vậy mới xứng với thành phố loại 2 . Ừ nhỉ? vậy mới phải chứ...Người ta bắt đầu nói về cái mới, người ta nói về đô thị hóa. Ngoài kia, những cây bàng mới đổ từ sáng sớm, lá đã bắt đầu úa. Chiếc xe cẩu đang kéo nó lên đưa đi nơi khác. Đám đông tan dần. Chiều nay tan trường phải chỡ tụi nhỏ đi ngang đây một chút cho tụi nó ghi vào bộ nhớ là hồi xưa trên đại lộ này từng là công viên.