Thursday, September 16, 2010

CÔN MINH KÝ SỰ

Cái mát mẽ của khí hậu miền núi làm nhiều người chợt nhớ khí hậu ở Đà lạt bên mình. Đã quá trưa mà nhiệt độ chỉ có 18-190C nên người dân qua lại trên phố luôn mặc áo khoác bên ngoài. Dọc đường người ta trồng hoa ở những bãi đất trống, công viên, sặc sở lắm. Đây là một thành phố của Tỉnh Vân Nam nằm trên cao nguyên phía Tây Nam Trung quốc. Vì đi trước nước ta một giờ, nằm trên cao ở phía tây nên bảy giờ tối mà còn thấy mặt trời, cứ như 5 giờ chiều ở Sài Gòn. Thành phố Côn Minh có cái gì đó vừa rất lạ, vừa rất quen. Vẻ hiện đại của một thành phố mới thể hiện nổi bật với các khu phố có nhiều nhà cao tầng, đường xá rộng lớn có nhiều cầu vượt. Nhưng nó không có cái vẻ xa lạ như Bắc kinh, Thượng hải. Có lẻ ngoài đường còn rất nhiều người đi xe đạp và kiểu kiến trúc của những khu nhà trông giông giống như bên mình, nhiều chung cư rất cũ kỹ với nhiều "lồng chim" nhô ra lấn thêm không gian...

Những ngày chuẩn bị khai mạc hội chợ Thương mại Quốc tế Côn Minh-Asean, con đường từ thành phố ra sân bay đi ngang qua khu hội chợ triễn lãm luôn tấp nập xe cộ, cờ xí giăng đầy. Tài xế taxi nào cũng hỏi chúng tôi một tràng, nhưng không ai hiểu nổi vì không biết tiếng Trung. Độ chừng họ hỏi mình dân xứ nào nên nói là "Việt Nam". Họ cũng không hiểu. Đến chừng học lóm được 2 từ " Yũen Nàm" (Việt Nam), họ mới chịu gật gù.


Ngôn ngữ là cái khó khăn nhất


Đành rằng nhập gia thì phải tùy tục. Tới nước nào thì nói tiếng nước đó mới là phải phải. Tuy nhiên, ở các nơi khác ít nhất cũng có thể giao tiếp bằng tiếng Anh ở các nơi như khách sạn, nhà hàng, siêu thị...Còn ở Côn Minh thì vô phương. Buổi sáng ăn buffet ở khách sạn, nhìn thức ăn bày sẳn thích món nào thì ăn món đó. Cùng lắm thích ăn trứng ốp la thì ra dấu đập hai quả trứng vào chảo thì bồi bàn cũng hiểu. Chứ còn buổi trưa, buổi tối thì...khổ lắm. Ông bạn đi mấy ngày không ăn được bữa cơm ngon, bức xức lắm nên cố tìm ra một tiệm ăn Quảng Đông. Không biết kêu cơm như thế nào nên ra dấu đang lùa cơm vào miệng. Cô gái bồi bàn có khuôn mặt tròn quay, má ửng đỏ, cầm sổ ghi mà cười tít mắt: phàn, phàn. Còn thức ăn thì chịu. Cuối cùng, anh đành dắt cô này đi khắp các bàn trong quán xem người ta đang ăn món gì, thấy ngon thì chỉ cho ghi. Thực khách một phen trố mắt nhìn.

Du khách đến đây đi chợ mua sắm chỉ có thể giao tiếp, ngã giá thông qua chiếc máy tính cầm tay. Còn đi đâu bằng taxi phải nhờ ngừơi biết tiếng Trung viết nơi đến vào mẫu giấy rồi đưa cho tài xế mới được. Có một ông nhờ tiếp tân khách sạn phát âm dùm nơi ông muốn đến. Chui vào taxi ông đọc lại như thế nào không biết mà xe đưa ông đi tới một nơi lạ hoắc, muốn quay về lại không biết nói như thế nào, mới chết!

Các doanh nghiệp đến đây dự hội chợ có một buổi sáng nhốn nháo tìm người làm phiên dịch để giao tiếp. May là có nhiều sinh viên Việt đang theo theo học tiếng Trung tại đây kéo nhau ra, còn rủ thêm đám bạn Trung quốc theo học khoa tiếng Việt. Có nhiều Việt kiều đang sinh sống tại đây cũng đến tìm việc làm với mức thù lao khá hậu: 100 tệ/ngày. Khổ nỗi, các sinh viên Trung quốc thì tiếng Việt nói không rành, sinh viên Việt thì ngược lại. Còn đa số Việt kiều thì nói thạo nhưng không viết được chữ...!?


Hàng hóa đầy ắp thứ gì cũng có

Muốn mua thứ gì ở đây cũng có. Muốn giá nào ở đây cũng có. Đi vào khu chợ con Ốc trên đại lộ Bắc Kinh, nguời ta thấy choáng ngợp vì cái sự phong phú của hàng hóa và nói...thách. Từ giày dép, túi xách, dây nịt...đến những bộ veston sang trọng; những máy thu thanh nhỏ xíu, cho đến điện thoại di động đòi mới đều có. Có một điều là thượng vàng hạ cám. Giá nào cũng có. Một chị bạn dân Sài Gòn đi cùng phải choáng ngợp vì một cửa hiệu nhỏ có để bên ngoài biển "chỉ 5 tệ" (tương đương 10.000 đồng Việt nam). Trong cửa hiệu vô vàn túi xách nữ, balô... mà theo chị nếu mang về làm quà ai cũng xuýt xoa. Mỗi cái chỉ có 5 tệ. Chị cười, không biết nói chơi hay nói thật: Mình mua hết cửa hàng này đem về Sài gòn chắc kiếm kha khá. Ông bạn mua được bộ complet giá 200 tệ. Rất đắc ý vì giá này bên mình không đủ trả công may đo. Hoá ra, một ông khác xem xong bảo rằng ông vừa mua một bộ như vậy chỉ có 120 tệ! Nhưng cũng có những cửa hàng mà chiếc áo thun sport nam treo giá tính đến hơn triệu đồng tiền mình và không trả giá được... trong khi nói thách là một đặc trưng khi đi chợ bên này, nhất là khi phát hiện bạn không phải là người Trung quốc. Chị bạn bảo rằng đêm qua chị mua một đôi giày có 60 tệ, vậy mà người bán hét giá ban đầu đến 500 tệ! Kiểu này nếu không mạnh miệng thì trả giá thế nào cũng dính. Hàng hóa đa dạng và tràn ngập với đủ loại giá cả khiến cho hàng hóa nhập từ nước khác vào khó lòng mà tìm được chỗ đứng trên thị trường này.

Chúng tôi cũng thấy nhiều cửa hàng bày bán dép Bitis, Càphê bột Vinacafé, thậm chí rất nhiều cửa hàng nhỏ có bày bán mít sấy khô Vinamit, made in VN (Ở sân bay Côn Minh cũng có bán). Áo sơmi Trung quốc nổi tiếng là rẻ, vậy mà người ta cứ sắp hàng mua áo An Phước, May Tây đô... Nếu chịu khó nghiên cứu thị trường, tìm ra cái nhu cầu còn thiếu của người dân ở đây thì chúng ta vẫn có cơ hội đấy chứ.


Vẫn còn mặt trái của sự phát triển

Trên đường về khách sạn, mưa phùn và gió rét căm căm. Mới 9 giờ mà các cửa hàng, siêu thị... đã kéo cửa hết. Tiếng rít của những cánh cửa sắt vang lên, thì một đám người đợi sẳn từ lâu ùa vào hành lang để tranh chỗ ngũ, bằng cách trãi những tấm chăn cũ xì, vá chằng đụp. Nhiều lắm những người như vậy. Thấy chúng tôi nhìn, anh bảo vệ khách sạn biết chút tiếng Anh bảo họ là những người nông dân lên thành tìm việc và...vô gia cư. Ở những góc phố, các nàng Kiều co ro trong lớp áo bông chạy theo khách, dù không hiểu họ nói nhưng ai cũng biết là các cô muốn gì...Ngày khai mạc hội chợ nhiều người không cảnh giác đã bị mất máy ảnh, hàng hóa trưng bày...ngay tại nơi mà an ninh xem chừng được bảo vệ rất nghiêm nhặt...

Có cái được, có cái không...nhưng trên đường ra sân bay về lại Việt Nam nhiều doanh nghiệp tự nhủ rằng họ sẽ quay lại thành phố Côn Minh mát mẽ này vì đó là một thị trường đầy tiềm năng, dù rất nhiều cạnh tranh.

XÓM NHỎ


Cả chục năm nay, con hẻm nhỏ vẫn cứ bình yên như ngày nào mà mỗi cư dân cứ phải xắn quần lội qua vũng bùn để vào nhà. Rồi con hẻm được xi măng hóa. Rồi nhà cửa khang trang hẳn ra, rồi xe máy ra vào inh ỏi. Chả bù với lúc mà từ chú Tư, anh Tám đều lặng lẽ mỗi ngày hai buổi đi về trên nhũng chiếc xe đạp cà tàng. Thế rồi, một hôm, cả xóm náo nhiệt lên vì những sự kiện dồn dập. Người ta mới chợt nhận ra rằng thời buổi kinh tế thị trường đã làm cho xóm nhỏ không còn bình yên như xưa nữa…


Từ đám cưới Đài loan...

Lão Tư có mụ vợ chanh chua bán đồ Si đa ngoài phố, tự nhiên sắm hẳn bộ cánh mới tinh tươm. Lão đang ra sức đạp nổ chiếc xe máy mới tậu. Mụ Tư đi tới đi lui trong xóm trong bộ cánh lòe loẹt mà cỡ tuổi mụ không ai dám mặc. Đám con đứa nhỏ nhất 5 tuổi cho tới đứa lớn nhất 18 tuổi cũng lăng xăng như nhà có đám. Mà có đám thật. Chả là lão Tư đang làm đám cưới cho đứa con gái mới 17 tuổi lấy chồng Đài Loan. Cái thằng chồng may thay chả sức mẽ gì nhưng theo lời của mấy thằng nhóc trong xóm con nhỏ chắc phải kêu bằng ba mới vùa. Hàng xóm cũng lấy làm ngạc nhiên nhưng vì đám cưới diễn ra ở nhà hàng và không mời ai nên cũng không ai thắc mắc. Chỉ có đều sau đám cưới mụ Tư không còn chạy chợ Si đa mà ở hẳn nhà. 5-6 chiếc tàu há mồm đều trông chờ vào món tiền cưới mà nghe đâu chưa tới một cây vàng. Con em của đứa vừa lấy chồng được mụ chăm chút, phổng phao hẳn ra mặc dù mới chỉ 15-16 tuổi. Có tin rằng mụ cũng đã lo liệu xong chờ đủ tuổi là theo chị về Tàu. Khổ nỗi, con chị cho đến giờ cũng chả thấy có thư từ gì?


Cho đến khách phương xa...

Buổi chiều, con hẻm vẫn chưa sáng đèn. Bọn trẻ đang chơi đùa hể hả cùng nhau sau cả ngày bị "giam" trong trường. Bỗng cả bọn lặng im mấy giây vì lạ hay vì hãi quá không biết. Sau đó cùng nhau nhao nhao lên như cái chợ trưa. Ê hê lô, Ê, Mỹ đen tụi bây ơi. Té ra, Bà Ba Mỹ (gọi vậy vì bà có chồng Mỹ, đẻ ra đứa con gái đen mun) mấy năm trước đi theo diện con lai, nay dẫn về mấy thằng Mỹ đen thăm nhà. Rồi nhà của bà tràn ngập tiếng Mỹ, bà cũng nói tiếng Mỹ. Giọng của bà rổn rãng, khua khuắn cái lặng yên của con hẻm. Anh Tám dạy trong trường Đại học, ra đứng trước nhà nói nhỏ, mấy thằng Mỹ nói tao còn biết nó nói gì. Còn bà Ba tao chịu không nghe được! Cả tuần liền, ban ngày mấy "chú Mỹ đen" ra đá banh cùng bọn trẻ. Tối đến anh Mỹ đen nhà ta cũng đi uống bia ôm. Được mấy ngày đâm ra ghiền. Bà Ba sợ quá tổ chức ngay đám cưới giữa một chú Mỹ và một trong mấy đứa cháu của bà ở quê ra. Sau đám cưới bà cho nó về Mỹ luôn, nói là để lo thủ tục đem vợ về Mỹ. Không đầy một tuần, đám cưới tiếp theo được tổ chức cho thằng Mỹ còn lại. Hôm về Mỹ, thằng này không chào ai trong gia đình bên vợ mà ra từ giã một em ở quán bia ôm mới chết chứ.


Đoạn kết của ba đám cưới và…một đám ma.

Trong hẻm có một căn nhà mà chủ nhân đã ra mặt tiền làm ăn, bấy lâu nay để trống. Hồi đầu tháng, có người đến dọn ở. Gia đình mới đến có một bà cụ đang hấp hối. Được vài hôm thì cụ qua đời. Đám tang của cụ con cháu đông đúc, có cả người từ nước ngoài về. Ai cũng cho rằng cụ quả là có phước. Buổi tối trước hôm đưa bà cụ về nơi vĩnh hằng, một dàn kèn đồng được mời đến để đưa tiễn. Tiếng kèn đồng vang vang trong con hẻm chật chội như muốn làm nổ tung moị người. Nhưng nghĩa tử là nghĩa tận. Mọi người vào nhà đóng kín cửa, cô Thủy ôm con chặt trong lòng cho nó đừng giật mình. Kèn đồng có thổi bài: lòng mẹ bao la như biển Thái bình …Có tiếng sụt sùi, rồi nức nở…Sáng sớm hôm sau, cũng bản nhạc này, cũng dàn kèn đồng người ta đưa cụ về nơi an nghĩ. Trưa hôm đó, cả xóm cùng tưng bừng vì dường như người ta đang đánh nhau trong ngôi nhà mà sáng nay còn có người mẹ vừa mất. Hóa ra, do bà cụ yếu quá sợ rằng sau khi cụ chết đi thì ngôi nhà chung sẽ dành phần cho ai nên mấy người con bán nhà đi để tiện bề chia chát trong khi cụ còn đó. Bây giờ kẻ ít người nhiều xâu xé nhau sau khi chỉ mới vừa chôn cất bà cụ xong. Tội cho bà, có nhà cửa hẳn hoi lại chết trong căn nhà trọ. Và đau khổ hơn khi con cái đánh nhau vì chuyện chia của…


Rồi con hẻm cũng bình yên trở lại. Nhưng những cư dân lâu năm ở đây chợt nhận ra rằng trong cái nắng trưa như làm đặc sệt không khí, tiếng gà gáy đơn độc như ẩn chứa sự sùng sục của thị trường. Và rồi giữa thành phố rộng lớn này, con hẻm nhỏ dường như rất nhỏ…



CHUYỆN NHỎ!


Mùa mưa tới, khổ sở vì phải đắp đê chống lũ trong nhà vào mùa mưa trước nên tôi phải nâng nền nhà. Công việc đang tiến hành trơn tru thì đến ngay lót gạch thì trời mưa tối thui, cúp điện. Thợ bỏ về hết. Ông thợ làm cửa sắt bảo thế là không giao hàng đúng hẹn được. Vậy là mất toi hai ngày. Định hỏi ông điện lực sao cúp điện như vậy làm cho dân khổ quá. Có người bảo chỉ có mình chú khổ chứ ai. Chuyện nhỏ. Hỏi ông bạn làm giám đốc xí nghiệp may: cúp điện thì làm sao? Cho công nhân nghĩ chứ sao. Vậy hợp đồng không làm kịp thì...Bị phạt! Sao không mua máy phát. Trời! Điện chạy máy phát giá thành lên tới 3.500 đồng/kwh. Lấy gì làm lời. Sao không khiếu nại ông điện lực. Chuyện của mình là chuyện nhỏ ai để ý. Vận động viên tầm cỡ quốc gia kia bị gãy cổ sắp chết tới nơi mà cái ông có trách nhiệm trả lời tỉnh queo: chuyện bình thường. Quả là trong hàng trăm, hàng ngàn vận động viên mà chỉ có một người bị gãy cổ, theo thống kê là chuyện nhỏ. Ở tỉnh nọ, khi Sở giáo dục hoãn không cho học sinh thi HK2 sau khi tất cả học sinh đều đã chuẩn bị, làm các em vàphụ huynh hoang mang. Ông phó Giám đốc Sở bị "thắc mắc" bèn trả lời rằng chuyện thi cữ có đề sẵn khi nào thi mà không được, hà cớ gì thắc mắc. Chuyện nhỏ. Rất nhiều chuyện nhỏ chung quanh ta bị cho là nhỏ đến nổi nó lớn lúc nào không hay. Nhiều doanh nghiệp tỏ ra tiếc rẻ khi bước vào hội nhập và thương mại điện tử thì mới hay cả mấy năm trước đây cái tên miền của mình đã được người ta đăng ký. Giờ muốn "trả lại tên cho em" phải chi ra khối tiền. Cũng bởi vì, trước đây ta cho là chuyện nhỏ.

Sự thờ ơ, vô trách nhiệm đối với những chuyện nhỏ khiến cho ta chai lì ngay cả với những chuyện lớn. Chuyện các em học sinh qua đò đến trường trong nước xiết đâu có phải khi xảy ra rồi thì mọi người mới hay. Ai cũng biết đó là nguy hiểm, khó khăn cho các em, nhưng chuyện nhỏ: không thể vì cớ đó mà xây cầu. Để rồi 18 học sinh không bao giờ có dịp đi qua cây cầu bắc qua con sông oan nghiệt… nếu có và một ông lão 82 tuổi phải dằn vặt. Trong giáo dục, chúng ta còn thiếu ngay từ khâu đầu tiên tập cho các em học sinh những quan tâm về những người khác, về các vấn đề xã hội. Những việc như ra đường thấy miễng chai phải nhặt bỏ vào thùng rác là việc không thấy bàn tới có lẽ vì là chuyện nhỏ chăng. Một chuyên gia về hàng không từng nghiên cứu và phát biểu một định luật nhằm hạn chế những sai sót có thể xảy ra bằng cách ngay từ đầu lưu tâm đến những chuyện nhỏ: nếu có một sai sót nào đó thì nhất định sẽ có người thực hiện sai sót đó. Do vậy để nó đừng xảy ra thì không cho nó tồn tại.




CHIM PHÓNG SINH


Có cầu ắt sẽ có cung; đó là qui luật thị trường. Vậy mà anh bạn tôi lại lấy thế làm cái lý sự cùn của mình để biện giải cho cái mà anh gọi là học thuyết mới: mọi cái ác đều bắt nguồn từ cái thiện. Anh bảo có những người mong muốn mua chim để phóng sinh thì mới có người đi bắt chim về để bán, nếu chẳng thế người ta đi bắt chúng để bán cho nhà hàng chắc. Mà nhà hàng thì ai ăn cái thứ chim nhỏ xíu như se sẻ, chim én…như vậy. Không đủ nhét kẻ răng.

Đầu năm thằng em ngồi bâng khuâng nhìn ra phố chặc luỡi bảo sao năm nay chim se sẻ bay đi đâu mất, chẳng thấy tăm hơi con nào. Thằng bạn vừa từ Bảy Núi về kể rằng không còn con én nào ở trên núi vì người ta giăng bẩy bắt hết. Ở trước ngôi chùa trong thành phố này, những ngày Tết, có 1500 đồng là người ta có thể làm một đều thiện tức mua con én hay con chim gì đó, rồi phóng thích chúng. Một bà ra dáng chủ nhân, hai bàn tay ôm lấy con chim sẻ ra chiều nâng niu đưa lên quá trán; đứng trước tượng phật bà mắt lim dim, miệng lầm rầm. Con chim mắt dại hẳn, ngơ ngác kêu chíp chíp chờ tự do. Thời gian đợi chờ dài thăm thẳm với con chim vì bà ta có nhiều điều ước quá chưa thổ lộ hết với Đức Phật.

Theo cái cao siêu của Phật học , hể còn mong muốn cái gì đó cho dù là mong muốn làm việc thiện cũng là chưa diệt được dục và vì thế thì Phật không chứng cho. Huống hồ, cái mong muốn phóng sinh cho sinh vật để cầu phước lộc cho mình lại làm hại chúng...Con chim rồi cũng được giải phóng, nó chệnh choạng tung cánh bay lên một cách yếu ớt. Nó bay khuất sau ngôi chùa rồi không hiểu rơi hay đáp xuống đâu đó. Hôm mồng ba Tết, thằng nhỏ nhà tôi hét lên ba ơi nhà mình có một con chim. Mẹ nó bảo tốt vì đất có lành thì chim mới đậu. Con chim sẻ mệt mõi không muốn bay dù tôi cố nâng và tung nó lên. Hóa ra nó cũng mới vừa được phóng sinh.

Một số chim nữa cũng được tung lên và bay đi. Mấy con chim còn lại trong lồng sắt, sốt ruột, nhốn nháo chờ tới phiên mình. Bà cụ già mặc cả mua được con én nhỏ chỉ có 1000 đồng, tay run run thảy nó lên cho bay đi. Nó chấp chới vài cái rồi sà xuống vĩa hè. Bà bán chim ban nãy bảo thằng con bắt lại cho vào lồng nhốt "những con chim ẩn mình chờ chết".

Mong sao cho nhanh chóng hết tháng Giêng......


Chợ rau đêm


Giữa lòng đô thị Cần Thơ mà vẫn còn một phiên chợ còn mang tính chất thôn dã, tự sản tự tiêu thì quả là một điều thú vị. Có người gọi đó là chợ Âm Phủ, nhưng những người buôn bán ở đây khi nghe gọi chợ bằng cái tên như vậy, thè lưỡi lắc đầu: sao gọi cái tên kỳ dzậy? Hỏi: vậy chứ kêu làm sao? Họ nói rằng cứ gọi nó là chợ hàng bông khuya là được


Chợ của những người "ngủ sớm dậy khuya"

Vợ chồng anh Hai Tồng, nhà ở tận Phong điền-cách Cần Thơ 15km, từ 2 năm nay, kể từ khi tham gia vào chợ này, đêm nào cũng đi ngũ lúc 7 giờ tối, để 12 giờ khuya là thức dậy ra chợ. Đây là chợ hàng bông theo như cách gọi của người họp chợ. Nhưng chợ không có bán bông hoa gì cả mà chỉ có trái cây và rau cải vườn. Nào là mận, ồi, sa bô; nào là chuối,cam, cóc...Rau thì xà lách, rau thơm, tần ô, bầu bí...Mua gì cũng có. Chợ bắt đầu khởi động từ khoảng 12 giờ khuya khi những chiếc xuồng ba lá chở đầy ấp trái cây rau cải của những người làm vườn làm rẩy từ miệt Phong điền, Cái răng, Ba Láng, Rạch gòi...cặp bến Ninh Kiều. Ghe xuồng tấp nập trên cả một đoạn dài của bến sông, tiếng người gọi nhau i ới. Xe đẩy tay, người vác mướn chen nhau đưa hàng từ bến sông lên họp trên các con đường từ đèn ba ngọn đến ngã tư Ngô Quyền-Lê Thánh Tôn, quẹo sang Tân Trào. Đặc biệt đoạn đường Ngô Quyền chỉ toàn là trái cây các loại, còn đoạn Lê Thánh Tôn-Tân trào dành cho rau cải. Những người từ miệt quê đến đây không chỉ là những người tự sản tự tiêu mà còn có những người mua bán chuyên nghiệp đi thu mua trái cây, rau cải từ vườn, từ rẩy rồi chở ra đây để bán. Chị Hoa, nhà vườn ở Láng Hầm, bày trước mặt mấy thúng cam,ồi; thứ nào cũng tươi chông vì mới hái, tươi cười nói: Đêm nào tôi cũng ngồi ngay chổ này từ 2-3 giờ sáng, chỉ khi nào mưa quá hoặc bệnh hoạn gì mới không ra. Không ra thì buồn và không có tiền. Chị cười sang sảng như quên hẳn thời gian, rằng mới có hơn 3 giờ sáng. Trời hửng sáng, thêm một số các bà các cô đi tập thể dục thấy đồ tươi rẻ nên dừng lại mua khiến chợ càng thêm náo nhiệt. Thế nhưng sự náo nhiệt chỉ diễn ra thêm chừng nửa giờ thôi. Mọi người đang chuẩn bị thu xếp trở lại nhà lồng chợ, hoặc trở về nhà, trả lại con đường cho người qua lại.


Dập dìu kẻ mua người bán

Bà Tám "cải", nhà ở Rạch gòi nhà chuyên trồng rẩy, đang ngồi uống cà phê đá bên cạnh một đống bầu bì, dưa leo ngồn ngộn, cô con gái út tay thoăn thoắt đếm dưa cho vào từng bọc 30 trái để chờ mối đến lấy. Bà bóc một quả dưa leo còn đầy phấn trắng đưa cho tôi: Ăn đi, không có thuốc sâu đâu đừng lo. Của nhà qua trồng đó, bán cho đám lái buôn nó ép giá còn chừng phân nữa (thực tế khoảng 30-40%), nên qua chịu cực đem ra đây bán sướng hơn. Tới sáng khi bà về nhà ngủ, thì mấy đứa con đi mua các đám cải, dưa trong xóm để khuya đến bà lại mang đi. Khoảng hơn 20 người ở chợ rau là dân Cần Thơ, họ là chủ vựa nhưng cũng dọn chợ từ khuya để đón dân nhà vườn mang hàng ra rồi mua lại; sau đó ngồi bán đến tận 6 giờ sáng mới dọn vô nhà lồng chợ. Số còn lại là người dân từ quê ra rồi tự bày bán cho đến sáng mới đi chợ rồi về luôn. Bên phố trái cây cũng vậy. Nhiều chủ vựa cũng thức cùng chợ, chờ nhà vườn mang trái cây ra để sang lại. Còn rau cải Đà lạt thì xe tải đậu ở xa, chỉ chở hàng về từ khuya bằng xe ba gác. Xen lẫn rau trái vườn, còn có cả nhưng thứ mang về từ nơi xa đến tập kết ở chợ này, càng làm cho nó phong phú nhộn nhịp hơn. Việc mua bán sang tay giữa các chủ vựa và dân trồng vườn trồng rẩy thường diễn ra từ 1-3 giờ sáng. Sau giờ này thì người mua thật sự mới xuất hiện: họ là những người bán rau cải từ các chợ nhỏ như Xuân Khánh, Mít nài, Trà Nóc đến bồ hàng về bán, họ là các xí nghiệp công ty ở tận khu chế xuất xuống mua thức ăn về làm bữa cho công nhân. Chị Tám, chị nuôi của một xí nghệp hóa chất, đang khệ nệ nào bí nào rau vừa mặc cả vừa hối thúc đóng hàng mang về, chị đưa tay chỉ ra chợ: ở đó bán mắc mà còn không tươi, vả lại buồi sáng đông người lắm nên đi chợ sớm này cho khỏe, cho rẻ. Chị chỉ cho tôi một quả bầu to đùng chỉ có 800 đồng! Tôi thì mua bầu bí làm gì, nhưng cũng trở lại mua một nãi chuối xiêm to 2500 đồng, và 1kg cam 6 trái 2000 đồng!


Những người thức và sống cùng chợ

Mấy quán cà phê cóc mở sáng đêm phục vụ chợ, mấy xe bánh mì thịt, xôi gà, có cả đống áo quần si đa cho các người dân quê lựa chọn. Mấy tay xe ôm ngáp vắn ngáp dài trên những chiếc ghế nhựa mà quán cà phê dọn ra ngoài đường. Còn mấy bác xe lôi thì có người đang an giấc trên chiếc xe của mình để chờ khách. Co ro trong chiếc áo gió cũ màu cháo lòng, Hòa-một thanh niên chạy xe ôm tâm sự: em đang chờ một chị cấp duỡng cho xí nghiệp hóa chất trên khu chế xuất đi chợ. Nãy giờ đã chở được 3 mối hàng đi về các chợ nhỏ. Bên cạnh mấy chiếc xe lôi là hàng đống rau quả đã đóng kỹ nằm chờ chủ nhân còn đang mua bán gì đó gần đấy. Một xe xôi gà lửng thửng đi đi lại lại trong một đoạn đường có hơn trăm mét, đâu đó vang lên tiếng gọi: xôi ! xôi. Đêm khuya nhưng cô bé chạy bàn cho quán cà phê cứ lăng xăng chạy đi chạy lại mang cà phê cho những người bán hàng, còn vài tiếng nữa là cô sẽ được ngủ bù, vì quán chỉ mở về đêm. Đông đảo nhất phải kể đến đội quân bốc vác, chuyển hàng; họ bận rộn nhất là vào khoảng 1-2 giờ sáng khi mà lượng hàng về rất nhiều, càng về sáng công việc càng thưa dần...


Tan chợ

Khi đầu đường Ngô Quyền, xuất hiện chiếc xe rác to đùng thì Bác Hai già chạy xe lôi, không thèm nhìn đồng hồ cũng nói ngay: 5 giờ rưỡi rồi. Mọi người cũng đang tất bật thu xếp gọn gàng để di chuyển hàng hóa thoắt một cái đã đuợc mang đi đâu hết. Đoạn đường rộn rịp lúc khuya nay lại im ắng. Vợ chồng Hai Tổng bán trái cây đã đi đâu mất. Không biết họ kiếm được bao nhiêu tiền lời nhờ mua đi bán lại mấy chục nãi chuối xiêm để trang trãi ít nhất 1000 đồng hoa chi, 1000 tiền bến đò, 2000 đồng tiền bến đậu ghe, 4000 tiền cà phê đá và 4000 đồng bánh mì mà hàng đêm họ phải chi ra. Nhưng chắc chắn bà Tám "cải" sẽ hài lòng vì không bị lái buôn bóp cổ của bà mấy chục phần trăm. Chợ hàng bông về đêm của Cần Thơ là một đầu mối quan trọng trong hệ thống cung cấp rau quả cho hàng chục chợ nhỏ khác trong nội ô, nuôi sống không biết bao nhiêu người dân quê và cả thành thị. Điều thú vị khác là giữa đêm khuya hai khách du lịch phương Tây vì không ngủ được nên xuống phố dạo chơi, chợt thấy chợ thích chí chụp hình lia lịa. Ông ta nói đây mới thật là một nét đặc sắc của chợ Việt Nam vì không có nơi nào giống như vậy.

VỊ ĐẮNG CỦA CHÁY RỪNG


Mãi sau khi vụ cháy rừng U Minh xảy ra gần 1 tháng, tôi mới có dịp về Kiên Giang. Gặp ông bạn vong niên vốn đang mua bán ở chợ Rạch giá. Anh rầu rĩ than ế ẩm. Gần 3000 hộ dân sống nhờ rừng và còn hơn thế có cuộc sống liên quan gián tiếp đến rừng; vì thế rừng cháy ai cũng vạ lây. Mấy bà bán hàng ngoài chợ, dạo này cũng thời sự không kém, luôn miệng nhắc đến rừng, đến cháy. Tôi bảo rằng chữa cháy xong mọi thứ chắc khá hơn, vì người ta sẽ làm lại, sẽ trồng mới rừng… nhu cầu sẽ gia tăng. Chị bán trái cây trề môi: Chời, chời, đợi đến đó…Rồi bỏ lững câu nói.

Anh bạn làm báo ở đây cho hay Tỉnh đang thu mua khoảng 15 tấn hạt tràm chuẩn bị gieo sạ lại khu rừng mới. Mỗi hạt tràm chỉ bằng đầu chiếc đũa, 15 tấn biết cơ man nào là hạt! Nếu tất cả đều nảy mầm thành những cây tràm con thì cũng chỉ lắp tạm một phần chỗ trống đã mất. Với những con số như vậy mới thấy những cái mà chúng ta vừa mất đi do hoả hoạn quý giá đến nhường nào. Bà hoả một lần nữa là thủ phạm. Nhưng người dân ở đây, chính quyền ở đây, và cả chính phủ đều nói là do con người. Dư luận ở U minh thượng, lẫn U minh hạ đều kháo nhau là do dân ăn ong đốt bùi nhùi làm cháy rừng. Dân chúng sống gần rừng bị nghi ngờ. Họ bực tức làm đơn kiện chỉ ra ông Sáu, ông Bảy nào đó hợp đồng khai thác cá U minh làm cháy rừng. Muốn khai thác cá, họ phải rút hết nước rừng ra rồi chận dòng để bắt; khiến cho mặt than bùn bên trên khô queo, khi xảy cháy thì vô phương cứu chữa. Dân chúng nói rằng lâu nay không phải là không có cháy, thậm chí hồi chiến tranh Mỹ còn dội cả Napal vào đấy nhưng có cháy khủng khiếp như vậy đâu: chính là nhờ có nước. Chả biết giả thuyết nào đúng nhưng trường hợp nào thì cũng chỉ vì cái lợi cá nhân nhỏ bé mà làm tiêu cả tài sản lớn của cả nước. Vài chục lít mật hay hàng trăm lít mật; vài tấn cá hay thậm chí hàng trăm tấn cá, trị giá có bao nhiêu mà bây giờ phải bỏ vào đó hàng chục tỷ đồng để chỉ cứu chữa đám rừng đã cháy rồi. Ngoài những thiệt hại không kể xiết, còn có cả những giá trị vô hình nhưng vô giá.

Có một lần được cho phép vào rừng U minh, khi chiếc xuồng bơi dưới lòng kinh nhìn lên thấy hàng mét lá tràm rơi xuống tạo thành một lớp phân cách rõ ràng, chiếc dầm bơi quơ đến đâu cá nhảy xoi xói đến đó, rồi chim và dơi nghe tiếng động bay lên rợp cả trời...Bây giờ thì rừng vàng nay còn đâu.

Một cơn mưa đầu mùa bất chợt đến giữa trưa hè hầm hập nắng. Những hạt mưa mới vừa rơi xuống đã vội bốc hơi bay lên vì đất cháy bỏng. Nhưng mưa cũng đã làm dịu đi cái nóng, cái ngột ngạt của không khí. Mưa còn hạ nhiệt những trăn trở trong lòng người vì lửa U minh, hy vọng mưa sẽ giúp dập tắt đám cháy. Đứng ngoài bãi biển Rạch giá nhìn về hướng U minh thấy như là có khói bay lên. Gió phần phật từ biển vào mang theo hơi mặn chát, lẫn trong đó như có vị chát đắng của khói từ rừng.


LÀM ĂN NƠI MIỀN TÂY XA XÔI…


Không phải là miền viễn tây xa xôi của Mỹ, nói theo tựa phim Wild Wild West, mà là vùng Đồng bằng Bất kỳ một công ty hay cơ sở sản xuất lớn nhỏ nào định "về miền Tây" thì cũng đều ngán ngại mặc dù ai cũng thấy cái thị trường này đông đúc và béo bở. Thành công hay thất bại đều có, nhưng bước đầu xâm nhập thị trường này ai cũng tìm kiếm những tay trung gian có sẳn để kết giao và trao gởi sản phẩm của mình. Dược phẩm thì đi tìm các nhà thuốc lớn thuộc hàng đại gia để nhờ làm đại lý phân phối, phân bón-thuốc sâu thì tìm mấy đại lý có vốn, có tiếng (vì mấy loại này nông dân mua gối đầu chịu nhiều lắm…); hàng tiêu dùng thì kiếm mấy cái shop "bự" mà gởi hàng… Nói chung, các công ty thường làm như thế này: tìm một đại lý (agent) ở các địa phương theo tiêu chí trên, rồi cử một đại diện (sales rep.) để chăm sóc các đại lý và triển khai các chương trình tiếp thị của mình. Việc tuy bài bản, đơn giản như vậy nhưng đâu phải dễ làm, vì phong tục, tập quán mua bán và cả phong cách của người miền này đòi hỏi người xây dựng và thực hiện các kênh phân phối, tiếp thị phải thông hiểu và hội nhập mới được.


Chọn ai làm đại diện ở miền Tây ?

Một tay đại diện bóng bẩy, cravat hợp mốt, ăn nói lịch lãm…có thể là hình mẫu lý tưởng ở đâu chứ ở đây thì không xong đâu. Người ta kháo nhau rằng ngoài việc phải có đủ trình độ làm việc (đương nhiên rồi), cái tiêu chuẩn đầu tiên phải là biết nhậu sương sương cái đã. Điều này tuy có hơi cường điệu chút đỉnh nhưng "uống được" thì rõ là làm việc hiệu quả hơn. Một đại diện công ty xuống thăm khách hàng ở Sóc Trăng, mới vừa kịp hỏi: Anh khỏe không? Ong khách hàng đã chộp ngay vai và bảo: Đi, đi. Đi đâu. Đi vô quán. Nhậu rồi bàn luôn thể. Tan tiệc, cả hai đỏ gay nhưng đắc ý lắm vì mọi việc đã thỏa thuận xong trong không khí vô cùng hào sảng.

Tửu lượng nhiều khi là thước đo khả năng và uy tín của người đại diện công ty. Thường nghe những câu: tay đó uống đâu được, làm ăn gì! Hoặc: Ừ, thằng đó chơi được vì nó uống khá lắm nghe!…Các công ty cử đại diện thăm viếng khách hàng hay đến gặp lúc chiều để tiện bề đi nhậu luôn một thể. Nhiều anh đại diện biết nhậu, "phát huy thế mạnh" của mình lúc đầu còn được việc về sau sa đà sinh nghiện luôn mới chết. Thực ra, không phải hoàn toàn cần "nhậu" đến như thế. Nếu biết uống chút đỉnh, đúng lúc thì cũng hay, nhưng không phải lúc nào cũng uống. Có người uống rất ít, thậm chí không uống vẫn thành công trong giao tiếp ở miền Tây. Vấn đề là phải đáp ứng cái phong cách hào sảng của người dân xứ này. Cụng ly chỉ là một cách thể hiện thôi (đôi khi còn phải biết hát vọng cổ nửa kìa!). Cách hành xử, giao tiếp phù hợp mới là vấn đề quan trọng. Người miền này khi ừ một tiếng tức là xong (đừng bắt ký tên làm bằng nhe), nhưng khi nhập đề thì thích cách lung khởi hơn. Họ hay bối rối và bị sốc khi bị đặt vấn đề trực diện. Chính vì sự "nhút nhát" này, công việc bên bàn nhậu khiến họ tự tin hơn, dễ ăn nói hơn. Nếu biết cách, trong môi trường này người làm tiếp thị sẽ thu thập được nhiều thông tin nhất, do vậy nếu cũng uống cho tới bến thì làm sao mà tỉnh táo để "moi tin".

Vẻ bề ngoài của người đại diện cũng nên lưu tâm. Kiểu cách và bài bản quá là khó chấp nhận. Không quá nhếch nhác nhưng đừng quá chải chuốt sẽ dễ gần hơn. Rất nhiều trường hợp, người đại diện bị ngỡ ngàng vì đôi giày bóng lộn, cái cravate mới tinh của mình không được đón tiếp nồng hậu thân tình bằng một tay ăn mặc bình thường nhưng ông khách hàng vui vẻ khoác tay, cặp cổ… Nhập gia tùy tục, dân miền Tây cũng có cái tục của mình mà các đại diện nên theo.


Chọn kênh tiếp thị nào? Ai làm người trung gian?

Bên cạnh chọn một người làm đại diện tiếp thị, coi sóc thị trường ở địa phương, các công ty thường chú trọng việc xây dựng một hệ thống phân phối thông qua người trung gian có sẳn tại chỗ. Tìm kiếm một kênh phân phối để mức độ bao phủ hàng hóa càng lớn là điều mà mọi người đều mong. Nhiều công ty vừa muốn bán hàng cho đại lý, vừa bán thẳng cho các nơi bán lẻ nên một mặt bán trực tiếp cho các cơ sở nhỏ, một mặt chọn người để làm nhà trung gian. Ở miền Tây, các nhà trung gian không thích và rất kỵ đều này.

Các nhà trung gian ở miền Tây thường thích hình thức phân phối độc quyền cho các công ty. Họ không muốn có ai khác ngoài họ làm việc này. Họ lấy làm vinh dự và đắc ý lắm khi làm nhà phân phối độc quyền cho công ty nào đó. Nhưng khi phát hiện không phải chỉ có họ độc quyền thì có khi họ tẩy chay luôn. Một nhà thuốc lớn ở tỉnh Kiên Giang cho đến nay không hề thấy bán loại thuốc của công ty P. trên quầy, cũng vì lý do trên. Ta cũng thường thấy nhiều đại lý phân bón, thuốc sâu, thú y…ở nông thôn rất hay treo bảng hiệu ghi là đại lý độc quyền! Họ thích vậy mà. Khi điều kiện độc quyền được thỏa mãn, họ rất tích cực quảng bá sản phẩm còn hơn cả đội ngũ của công ty. Các đại diện của công ty chỉ cần triển khai các hoạt động thông qua các trung gian phân phối là có thể thúc đẩy công việc kinh doanh tại chỗ. Rất nhiều công ty quá nóng vội triển khai mạng lưới tràn lan, ai cũng được chọn làm đại lý cả, rốt cuộc là không ai cả.

Với bản tính phóng khoáng, dân miền Tây không thích bị ràng buộc. Thoả thuận điều gì xong mà đưa ngay bản ghi nhớ bắt ký tên có khi làm họ nổi giận, hủy ngang luôn. Có nhiều công ty hàng mấy năm nay, thực hiện các chương trình chỉ thông báo miệng, vậy mà vẫn êm ru, chương trình nào cũng thành công. Nhưng khi chọn họ làm đại lý thì phải có những cam kết, ràng buộc chứ không có sao được. Vì vậy, tốt nhất là nên gợi ý để họ tự "buột" mình. Sau đó gởi giấy tờ cho họ xem lại coi như mình chỉ ghi lại điều họ nói. Họ sẽ ký liền.

Chữ tín. Hứa gì phải nhớ và giữ lời ( mặc dù không có biên bản gì cả). Trên cả huê hồng, tiền bạc…chữ tín là cái mà dân ở đây coi trọng vô cùng. Nhiều khi họ chỉ cần hứa miệng một tiếng là thực hiện ngay. Nếu mà bị thất hứa một lần thì không chỉ người đại diện hết mong gặp lại, mà cả công ty đó nhiều năm sao vẫn còn tai tiếng.

Cái phóng khóng, trọng nghĩa khinh tài theo mô thức của "anh hùng Lương Sơn Bạc" là dấu tích còn sót lại của một thời khẩn hoang, nó ảnh hưởng đến phong cách và cách hành xử trong kinh doanh của người dân miền Tây. Có nhiều cái hay mà cũng có nhiều điểm bất tiện. Hòa nhập và chấp nhận cái kiểu riêng của họ. Rồi hướng dẫn, đưa họ trở lại với cách thức của mình. Quá trình này nhanh hay chậm là công việc có tính nghệ thuật cao của nhà kinh doanh muốn xâm nhập thị trường này.