Thursday, September 16, 2010

Ở THỊ XÃ CÂY XANH CÓ TÊN


Ở Trà vinh, người ta xem cây xanh như là những đứa con. Nhà nước chăm sóc chúng, lập lý lịch cho từng cây hẳn hoi. Thị xã này xanh nhất đồng bằng vì ngợp trời bóng cây. Ngày xưa nó còn nhiều cây hơn bây giờ. Có những con đường mà người ta không gọi tên mà chỉ gọi là đường hàng Me, đường cây Dầu, đường hàng Dương...Tuổi thơ trôi qua với cái giàng thun để lẫn vào tập vỡ khi đi học, để khi tan trường chạy ra ngay cây me đậu phụng duy nhất trước Sở Công chánh bắn lén mấy quả me ngọt. Hàng me ngày đó giao cho một ông người bé tí chăm sóc và khai thác. Cứ mùa me chín là ông leo hái me hết ngày này sang ngày khác, đem bán chỉ nộp thuế tượng trưng cho chính quyền, ngược lại ông phải theo dõi chăm sóc chúng cả năm. Rồi con đường trồng toàn là dầu cổ thụ, cứ sắp đến mưa là hoa cứ xoay tít bay bay...Bây giờ, chính quyền địa phương còn trồng toàn cây bàng trên một con đường; những cây bàng gục đầu vào nhau che mát con đường khiến giữa trời trưa nắng cháy mà cứ ngỡ đi giữa đường hầm mát rượi. Nhiều người bảo cái ấn tượng nhất của Trà Vinh là cây xanh, không nơi nào bằng. Nếu tổ chức môi trường thế giới mà đến đây chắc phải công nhận đây là thành phố môi trường lý tưởng.

Ở Cần Thơ, năm nay tự nhiên tất cả các cây sao trong thành phố đều nở hoa. Hoa sao cũng như hoa dầu nhưng nhỏ hơn và nở dầy hơn. Rồi chợt một ngày hoa rơi khắp đường phố tạo nên môt lớp thảm hoa sao vàng rực. Xe cộ và người qua lại dẫm lên xác hoa làm nó bốc lên chất tinh dầu ngay ngáy nhưng không khó chịu chút nào. Người ta bảo năm nay, cây cối tới tuổi dậy thì. Phải mất gần chục năm mới tới lúc cây ra hoa và làm đẹp cho thành phố. Hoa nở khắp phố phường làm cho các con đường, bụi bặm là thế, ngột ngạt là thế, tự nhiên lãng mạn vô cùng. Lưu thông đi chậm hơn, nhịp đời bớt hối hả và con người bớt stress hơn.

Bình thường cây cối vô tình đứng ngay đấy, đến khi chợt nở hoa mới làm người giật mình vì hờ hững. Một buổi sáng, cô bạn chợt hét lên: Đẹp quá! Cái gì đẹp? Cây bằng lăng! Đâu? Ngoài đại lộ đó. Cây bằng lăng lâu nay sớm sớm chiều chiều qua lại mà cô nàng có thấy gì đâu. Chợt hoa tím nở rộ mới hay là có nó. Hóa ra tất cả các cây bằng lăng trong thành phố đều đã nở hoa. Cái lạ mà người ta chợt khám phá là những cái bình dị dân dã như vậy lại ở ngay trong lòng đô thị. Nó khơi dậy đâu đó trong lòng một góc của tuổi thơ từ lâu đã xa. Nó khiến cho người ta bình tâm hơn, lắng đọng hơn giữa cuộc sống.

Ông bạn vừa du lịch Thái lan về kể rằng trong một siêu thị, người ta bán từng hoa dầu sơn verni bóng và đóng gói tinh tươm để bán cho trẻ em. Một lần ở Hồng Kông, tôi còn thấy người ta bán cả dế đựng trong một hộp nhỏ rất đẹp. Tự nhiên ước ao đem những trò trẻ thơ xưa "đóng gói" đem bán, bán cho chính mấy đứa con mình. Tôi gọi điện cho ba tôi ở quê nhờ ông lượm dùm một mớ hoa dầu gởi lên, chắc mẫm mấy đứa sẽ sướng mê. Thằng con đi học về nhìn thấy tò mò quan sát, rồi hững hờ nói cái này thì để làm gì kia chứ!


CHÁO CUA ĐỒNG



Cua đồng là món dân dã của Việt nam. Từ Nam chí Bắc, đều có những món ăn từ cua đồng: bún rêu cua, canh cua rau đay, canh cua tập tàng…chỉ có khác là nấu với cà hay rau gì mà thôi. Ở Mỹ Tho, bà chủ của một quán nhỏ, nói giọng nửa Bắc, nửa Nam, sáng tạo ra món cháo cua cũng giống như cái chất giọng của mình. Mấy người bạn rủ nhau đi giã rượu sau một chầu nhậu, tỉnh thì không và xỉn thì chưa (còn nếu xỉn "chết ngắt" thì vô phương rồi), nhưng lại kéo nhau vào một quán ăn khác. Trước quán có tấm bảng: Cháo cua đồng. Nghe chân quê lắm. Món cháo cua được dọn ra trong một cái lẩu. Một dĩa rau sống các loại bao gồm: rau đay, bồ ngót, cần nước, cù nèo, mướp và bầu sắt thành sợi. Lấy muỗng rà soát khắp lẩu, không tìm đâu ra bóng dáng thịt cá. Bà chủ cười đùa, lém lỉnh, vậy mới gọi là cháo cua chứ. Chỉ có cháo nấu với cua đã được đâm nhuyễn trong cối bằng cây (chứ không xay máy), rồi lược lấy thịt đem nấu cháo với nấm rơm búp nhỏ xíu (dân miền này gọi là "núm"!). Cháo đem lên bỏ vào đầy nhóc hành xắt nhỏ (giống như món mà thị Nỡ làm cho chí Phèo ăn nhỉ?). Một chén gạch cua nhỏ đổ vào cháo, nổi lên cái màu vàng ươm. Người ta thường ăn bằng mắt trước, rồi mới bằng vị giác sau. Nhìn như vậy cũng đã thèm lắm rồi. Rau đay nhúng vào cháo, rau bồ ngót cho vào chén rồi múc cháo nóng vào. Cháo nóng húp quanh vài muỗng, chất cồn nằm trong người nảy giờ như bốc hơi đi đâu mất.

Cái món cháo cua với mớ rau vườn mang đậm tính chất khẩn hoang của người dân Nam bộ, đầy hương vị của món canh cua miền Bắc. Còn nói như vị bác sĩ Đông Y cùng đi thì: coi vậy chứ bài thuốc không đó. Cái hỗn hợp cua, rau, nấm tạo thành một món tương tu thanh nhiệt, đang lúc rượu say, bốc hỏa mà đem chữa cháy thì đúng quá còn gì. Món ăn thì đơn giản nói ra ai làm cũng được. Khâm phục nhất là ngừơi nghĩ ra. Mấy ngày Xuân gặp bạn bè chè chén mà có món cháo cua đồng, âu cũng là cứu cánh.


CÀ RI- MỖI NƠI MỖI KHÁC


Ở Sài Gòn có nhiều chỗ bán cà ri nị, tức cà ri chính gốc An. Mấy món ăn cà ri nị thường là những thứ cay xé lưỡi. Lúc ăn cà ri cay, nước mắt chảy ròng ròng, chợt trách tiền nhân khi chọn lọc thức ăn sao không loại bỏ trái ớt. Lẽ nào hồi xưa ớt ngọt, không cay! Cà ri nấu theo kiểu này có nhiều đặc trưng cay và hăng ăn với thứ nước chấm chua chua như để làm dịu lại cái cái cay xè của ớt và thường nấu với thịt cừu, dê... Cay vậy chứ cũng có nhiều người mê món cà ri nị. Phải cay như vậy mới gọi là cà ri chứ.

Khác với lọai cà ri nị, ở miền Nam, người ta nấu cà ri theo kiểu của mình. Ngày giỗ chạp, đám lễ người ta thường hay nấu cà ri gà. Cà ri phải có nước cốt dừa. Thịt gà được ướp với một lọai bột cà ri bán sẳn mà thành phần chủ yếu là bột nghệ cộng với một ít gia vị khác như bột hồi, ớt...rồi bỏ nuớc cốt dừa vào ninh nhừ là xong. Do vậy, món cà ri miền Nam hơi ngòn ngọt và béo ngậy nước dừa. Lâu lâu ăn cà ri nước dừa thấy ngon nhưng bảo ăn hai ba ngày chắc là không nổi. Bảo dân An mà ăn cà ri này chắc họ ăn không được. Người ta hay nói là cà ri du nhập từ An Độ. Đến nỗi có bài hát..."đi tới Karachi, mình muốn mau béo phì thì đớp cơm cà ri". Cũng là cà ri, một thứ gia vị đặc biệt của người An nhưng khi vào Việt Nam thì cách nấu khác đi, lại mang cái bản sắc Việt nam là nước dừa nữa chứ. Không phải là món gia vị truyền thống nhưng giờ đây cà ri cũng đã trở thành một thứ gia vị quen thuộc của Việt Nam. Đúng là một sự hội nhập có chọn lọc, thêm vào bản sắc của mình.

Một lần đi công tác dài ngày ở Kualar Lumpur (Malaysia), suốt gần cả tuần phải ăn cà ri. Buổi sáng, bên lề đường có bán cả xôi đâu như bên mình, chỉ khác là có chan thêm nước sốt cà ri! Buổi tối, đói quá vào cửa hàng 7-Eleven mua mì gói, về đổ ra nấu cũng là cà ri. Món gì cũng có cà ri. Cơm cà ri đã đành, đến mì cũng nấu với cà ri (gọi là curry -laksa). Bí quá, cả bọn bàn với nhau là kêu bít tết cho chắc ăn. Đến khi miếng thịt đem ra thì cũng có ướp cà ri mới dỡ khóc, dỡ cười. Có lần đói bụng vào một nhà hàng truyền thống, định tìm hiểu văn hóa ẩm thực nước bạn. Thấy một đôi tình nhân ăn món cá cà ri. Chàng thanh niên dùng tay chan cà ri vào dĩa cơm cho cô gái. Bẻ đôi con cá, chia cho nhau (cũng bằng tay). Rồi dùng tay bóc bỏ vào miệng ăn say sưa. Thỉnh thỏang, liếm mấy ngón tay cho sạch. An cà ri "nguyên chất" phải như vậy chứ. Thế là chịu thua, đành ra về với cái bụng đói.

Ở các chợ và siêu thị bên Malaysia có các cửa hàng chuyên bán gia vị cà ri hẳn hoi. Rất là nhiều lọai gia vị bỏ trong các lọ thủy tinh to, bày đầy vách tường. Có đến hàng chục thứ mà chúng tôi chỉ biết có mấy thứ là hồi, quế, nghệ. Người mua đến chọn từng thứ gia vị mình thích, tùy theo khẩu vị mà liều lượng các thứ khác nhau, khi thì hồi ít, khi thì quế nhiều...Sau đó chủ tiệm đem xay nhuyễn rồi gói cho khách. Dân ở đây ăn gì cũng ướp cà ri nên mua một lần cả kí để ăn dần!

Người ta kháo nhau, cà ri là một lọai gia vị tổng hợp, từ những thứ có tác dụng kích thích nên ăn vào "sung" lắm. Cho nên đàn ông Malaysia được phép lấy mấy vợ ! Thật hư ra sao chẳng biết, nhưng bắt ăn cà ri chừng ba bốn ngày liên tiếp là ...Cà ri, ta chào mi!

DÂN ĐỒNG BẰNG UỐNG CÀ PHÊ

Tản mạn đồng bằng



Khi đi công tác ở các nơi, buổi sáng tôi hay thức dậy thật sớm để đi bộ dọc theo các con phố, để xem phố thức dậy. Không giống như cái thức giấc của đô thị, như Sài Gòn, các thị xã ở đồng bằng thức dậy chậm rãi và yên bình như một cô gái vươn vai e lệ. Để cảm nhận cái thú như vậy, tôi thường hay la cà các quán cà phê ven đường, ven chợ để thưởng thức buổi sáng. Ly cà phê ở các hàng cà phê bên chợ, bên hè ở đồng bằng không cầu kỳ, không kiểu cách nhưng cũng thơm nức mũi và ngọt đắng.


Quán cà phê bên hè ở thị xã Long xuyên, nằm cạnh một ngôi đình giữa lòng thị xã. Người bán mặc quần cộc, bụng to phè, tay cầm một cái gáo múc nước sôi từ trong cái thùng đang sùng sục. Tay kia cầm cái vợt chứa đầy cà phê bột, đổ nước sôi vào lấy cái muỗng dài khoắn đều. Đáy vợt cho ra dòng cà phê đen sánh, chảy vào trong cái ấm nhôm đặt nằm trên nồi nước sôi để giữ nóng. Cho đường vào trong cái "chệt đẽo", rót cà phê nóng vào đặt lên cái đĩa sành nhỏ cũ xì mang ra cho khách. Vậy là khách đã có được cái "xây chừng" ( theo tiếng Hoa là cà phê nóng trong cái ly nhỏ). Còn cái "chệt đẽo" là cái ly chuyên dụng uống cà phê từ xưa lắm rồi. Nó làm bằng thủy tinh, thấp có ngấn. Cứ bè bè như ông chệt bàn hàng. Loại ly này tuy đơn giản như vậy nhưng ngày nay ít khi được nhìn thấy. Chỉ có 1000 đồng một cái xây chừng. Giá rẻ bất ngờ. Có 1000 đồng là được uống cà phê buổi sáng, cũng thơm lừng và còn có cả ký ức thời bé tí đi kèm nữa.


Hồi nhỏ, khi được đi cùng ông tôi uống cà phê sáng, tôi chỉ được biết cà phê qua ly "bạt xỉu" tức là ly sữa nóng nhỏ. Thi thoảng cũng uống được cà phê. Lớn hơn một tí cũng đã uống cà phê đen rồi. Rồi bẳng đi đến nửa đời mới có thói quen uống cà phê đen buổi sáng, mới biết thưởng thức, mới biết ghiền cà phê. Nhưng cái mùi vị cà phê bây giờ sao không giống như trước. Nó đắng và chát (người ta nói do bỏ cau khô), nó thơm nhưng rất nồng, nó đen chứ không nâu và sền sệt như nước màu kho. Có một dạo, lâu lắm rồi (những năm 80), người dân Cần thơ còn uống cả cái "lưng chừng". Chẳng qua cà phê đen được gọi là xây chừng, lúc đó 1 đồng/ly, còn sinh viên không tiền chỉ uống phân nửa thôi, mà chủ quán cũng chiếu cồ bán nửa ly 50 xu, nên gọi là lưng chừng. Có lúc dân đồng bằng có gu uống cà phê phải có bọt như bia. Nên người ta tìm cách sao cho rót cà phê mang ra phải còn bọt trào tận miệng ly. Rồi phát triển thêm gu bỏ một ít bơ vào ly cho thơm, cho béo.


Gọi là uống cà phê nhưng là cà với các chú các bác ở hàng quán mới phát hiện ra rằng cà phê ngon hay dỡ không quan trọng lắm mà chính là cái không khí của quán cà phê, cái góc nhìn xuống phố quen thuộc, cả những khách quen mặt nhưng chưa bắt chuyện bao giờ…tạo nên cái chất khiến cho người ta ghiền cà phê hơn. Hỏi hết mấy ông ngồi chung quanh, ông thâm niên thấp nhất trong nghề ngồi quán này cũng đã hơn hai năm!…Dịp nào đó hãy thưởng thức phố xá ở vùng đồng bằng thức dậy, bằng cách thức sớm và uống cà phê bên hè của chú chệt đang vưỡn bụng cười hền hệt, miệng nói "chẩu sành, chẩu sành" (chào buổi sáng)…

CÁI BÁNH ÍT NGÀY XƯA



Bánh ít hay bánh ích? Hồi nhỏ tôi đã thắc mắc như vậy. Nhưng lúc ấy bà tôi nội đưa cho cái bánh "ít", rồi gõ đầu bảo bánh này mà ít sao? Do phát âm nên người dân miền tây không phân biệt được là ích hay là ít. Mà có quan trọng gì đâu cơ chứ. Miễn sao có cái để mà thưởng Xuân, ăn Tết. Ít nhưng mà không ít.

Ngày xưa, chúng tôi mong Tết dữ lắm. Đầu tháng 12 âm lịch đã nôn nao rồi. Lúc đó thường là 28-29 tết. Thường khi ấy gió chướng về thổi phần phật, mấy cây mai chỉ toàn nụ xanh, ngã qua ngã lại. Không khí có cái gì đó khan khác, vui lắm, không giống ngày thường. Bọn trẻ chúng tôi càng nôn nao tợn. Khi bà nội tôi bảo rửa lá chuối gói bánh ít thì Tết đã đến gần. Những tàu lá chuối chọn cho lành nguyên, rọc ra và xé thành những miếng khoảng 30 cm vuông. Lá đem rửa cho sạch rồi, cắt tròn góc rồi phơi một tí nắng cho mềm lá. Mẹ tôi thì nấu đậu xanh cho nhừ rồi nêm nếm để nguội. Vắt đậu thành những viên nhân. Dừa rám-tức không quá già-đem nạo rồi xào với đường. Loại đường thẻ mà ngày nay ít khi thấy có bán trên thị trường. Dừa xào xong cũng vắt thành nhân. Công đoạn của bà tôi làm là chuẩn bị bột. Bột nếp xay ra từ mấy ngày trứơc, sau đó cho bột nuớc vào trong cái bao "bồng bột". Loại bao làm bằng vải dầy chỉ cho nuớc rĩ ra chứ bột thì còn lại. Sau một ngày đêm cục bột còn lại trong bao phân làm hai, nửa đem xắt phơi khô. Còn phân nửa để trắng như vậy để gói bánh dừa ngọt. Còn bột khô thì nhào nặn với đường nung chảy làm thành thứ bột ngà ngà như mật, thơm lừng mùi đường thẻ. Bột này ngọt dùng để gói nhân đậu xanh.

Tôi chỉ được sai vặt. Lúc thì rửa lá lúc thì nạo dừa, chụm lửa chứ chưa khi nào được mó tay vào việc gói bánh. Vì công việc này đòi hỏi phải có nghề. Nếu không, khi chín, bánh sẽ không đứng thẳng mà bò dài ra. Mẻ bánh hấp được chín đầu tiên bao giờ cũng là để xem bột có khô không, có nhiều nước không. Chúng tôi hay giành nhau mấy chiếc bánh đầu tiên này, nên khi bắt đầu gói bánh thì tích cực ngồi gần giúp bà, giúp mẹ; lúc thì chụm lửa, lúc thì lấy cái này cái kia. Chúng rất ngon vì cái bánh ít đầu tiên mình được nếm trước mọi người nên thích lắm. Ôi cái mùi thơm của đường, cái vị béo của dừa, của đậu. Tất cả kết tinh thành một phần cái mà ta gọi là quê hương

Mấy ngày Tết trôi qua, rỗ bánh to đùng vơi dần. Bà tôi nói không nhờ bánh ít thì làm sao cho lũ trẻ chúng tôi có quà bánh ăn cho đủ trong mấy ngày xuân. Bây giờ, bà già rồi không còn đủ sức ngồi gói, mẹ tôi cũng vậy. Nhưng Tết cũng có bánh ít mà là bánh mua từ chợ về, đặt người gói để ăn Tết. Các con tôi cũng có bánh ít ăn Tết. Nhưng chúng đâu có biết được cái háo hức ngày xưa mà tôi từng tận hưởng mỗi khi cả nhà chuẩn bị gói bánh. Nó không chỉ là nổi nôn nao trẻ con mà còn là sự trào dâng của không khí Tết, của mái ấm gia đình, của quê hương. Sự bận rộn, bôn ba của cuộc sống làm ta mất đi quá nhiều những ký ức đẹp đẽ ngày xưa.

BA ĐỘNG: NÀNG CÔNG CHÚA CÒN NGỦ QUÊN


Ba Động ở Trà Vinh là cách nói trại ba cái đụn cát nổi lên bên bờ biển; hay là sóng dữ như cái tên chữ Hán của nó: điều này không ai rõ cả. Ba Động cái tên từ lâu đối với người dân địa phương như là một tên gọi bình thường, chẳng ai để tâm xem ý nghĩa của nó là gì. Còn với những người lớn tuổi thì địa danh Ba Động-Trà Vinh như là một chỗ nghỉ mát của Tây. Ngày xưa, Pháp đã cho xây một khu nghỉ mát ở xứ này cho quan chức thuộc địa nghỉ ngơi. Và cũng không rõ vì cớ gì mà ở khu vực huyện Cầu Ngang có nhiều nhà thờ được xây từ thời Pháp thuộc, rất đẹp, như nhà thờ Giồng Rùm, nhà thờ Phước Hảo… đã hơn trăm năm tuổi. Có lẽ họ dự định biến nơi này thành một thành phố nghỉ mát ven biển chăng? Cũng chẳng ai biết.

Vài năm trước nhắc tới Ba Động, ai cũng le lưỡi, lắc đầu vì xa xôi, vì đường đi không chỉ có ổ gà mà còn cả ổ voi, lại qua phà nhiêu khê... Quê ngoại tôi ở Ba Động vậy mà mãi đến năm 40 tuổi mới biết, mới đi đến. Bây giờ con đường đi tuy hẹp nhưng xe chạy bon bon. Chỉ cách Trà Vinh có hơn 50 km, thời gian đi chỉ độ 1 giờ là đến. Nhiều người tính rằng từ Cần Thơ muốn tắm biển chỉ đi có 150km là tới Ba Động, thay vì hơn 300km để đến với Vũng Tàu.

Bãi cát trãi dài mút mắt, bờ biển được che chắn bởi hàng phi lao cao vút. Gió thổi vào hàng phi lao như hát, như kể lể, như mời chào người phương xa. Xe chạy ngay trên bãi cát chắc nịch. Thứ cát biển chẳng giống nơi nào cả. Nó vàng vàng, sánh chặc như cái màu nước mắm rươi đặc sản xứ này. Ba Động không giống bất kỳ bãi biển nào khác: nó hoang sơ, hoang sơ lắm. Cái hoang sơ nhưng rất thu hút, nhất là đối với những ai có máu mê du lịch sinh thái. Buổi chiều nứơc rút xuống, bãi biển đầy những vỏ sò, ốc và dấu chân dã tràng. Ông ngư phủ cho đứa con gái mới khoảng 10 tuổi giữ chặt tay lưới trong bờ. Còn vợ chồng ông đánh một vòng ra xa rồi từ từ khép lưới vào bờ. Cá đối trắng bạc nhảy soi sói dưới ánh nắng chiều. Mua một mớ vài ngàn đã có hơn chục con. Hải âu thấy cá nhảy cứ lượn lờ trên biển. Xa xa các cụm đáy hàng khơi trông giống như những khu phố giữa biển. Buổi chiều mới man mác làm sao.

Mớ cá vừa mang từ biển lên được chiên xù, dòn tan. Chấm với nước mắm rươi nguyên chất, cái mùi nước mắm rươi đặc trưng hăng hăng, nhưng ngọt lịm. Mớ rau sống mà dân ở đây gọi sâm biển, trông giống như một loại xà lách mọc hoang, quả là thứ trời cho để ăn với cá đuối dơi, thứ to bằng cái quạt mo. Cá còn sống nhăn, đem chặt thành miếng vuông cho vào nồi cơm mẻ sôi sùng sục. Nhúng sâm biển vào là có ngay một món mà thị thành đố ai tìm được. Ngoài cái ngọt tinh khiết của hải sản tươi, cái cảm giác được ăn những con cá mà mới vừa rồi mình tận mắt thấy còn nhảy tưng tưng ngoài biển, giờ nằm trên dĩa, mới thú vị làm sao. Những món ăn như thế giản đơn nhưng độc đáo, như cái vẻ hoang sơ của xứ Ba Động.

Dân ở đây giờ khá lắm rồi. Nhà lầu xe máy khắp nơi. Tôm nuôi sống người dân ở đây và hơn thế còn giúp họ làm giàu. Đường xá khang trang, nhà hàng mọc bên bờ biển, khiến cho giá đất rục rịch, không yên. Khai thác du lịch còn rất tự phát. Một chuyên gia du lịch nhìn mấy cái nhà hàng lắc đầu: không giống ai! Giữa cái hoang sơ, thiên nhiên như vậy, những túp liều bán bê tông, cái thì vuông, cái thì bát giác trông lạc lõng, quê mùa. Cần phải có qui hoạch, phải có can thiệp cho một chiến lược du lịch sinh thái.

Khách du lịch có thể đến Trà Vinh, thưởng thức thành phố yên tĩnh và xanh. Những món ăn không cầu kỳ, nhưng độc đáo như bún nước lèo (dân Trà Vinh là Việt kiều ở các nước nghe nhắc đến là thèm), bánh canh Bến có...rồi ra Ba Động ngắm biển. Bao nhiêu phiền toái của cuộc đời sẽ rủ sạch. Chẳng còn stress, chẳng còn bon chen...

Ba Động như nàng công chúa còn mãi ngủ trong rừng. Hoàng tử nào sẽ đánh thức nàng đây. Một khu du lịch xanh, văn hóa và sinh thái ở Trà Vinh không phải là chuyện xa vời. Một nền văn hóa đa đạng Việt-Hoa-Khmer ở Trà Vinh với chùa chiền Khmer, Hoa; các lễ hội Nghing Ông, cúng biển, Dolta, Oc Om Bóc… tạo nên một tiềm năng lớn cho du lịch Trà Vinh. Một chương trình xúc tiến du lịch tổng thể sẽ là một cú huých cho du lịch biển Ba Động. Từ sự phát triển du lịch sẽ kéo theo sự phát triển của công nghiệp và các dịch vụ khác. Cái đáng quý nhất mà Ba Động hiện có là sự hoang sơ, còn trinh nguyên. Ngay bây giờ, Ba Động cần phải được qui hoạch ngay, không xây cất bừa bãi, không đầu tư tự phát, thì mới có thể biến nơi đây thành một trung tâm du lịch sinh thái mới.



Ai mua MAY tôi bán MAI cho…


Sáng ngày ba mươi Tết (thật ra là 29), ông bạn rủ nhau đi mua cành mai về chưng tết. Tờ mờ sáng đã cùng nhau ra chợ. Mọi năm chợ đông là thế, còn năm nay chỉ lèo tèo mấy cành mọn. Thỉnh thoảng có một vài cành trông đèm đẹp thì mất bà bán mai hét giá tận trời xanh. Bọn chúng tôi rõ là có hai cái khổ: mua lỡ cành mai mà mồng một nụ rụng hết, hoặc không nở hoa nào thì thế nào cũng bị chì chiết là vác cái của nợ để phải xui suốt năm. Còn nếu mua đúng cành có thế, đầy nụ búp cho chắc ăn thì phải móc túi khá nặng, có khi còn bị cằn nhằn là không biết trả giá. Mấy năm trước thì chọn lấy một cái khổ, còn năm nay mai có khả năng phải chịu cả hai. Người bán mai bảo, do thời tiết nóng lạnh, mưa nắng thất thường nên mai đã nở hết từ tháng chạp. Người biết chuyện thì bảo mấy năm trước người ta khá dần lên nên tậu mai rầm rộ, mấy cây mai gốc ở vườn, ở quê đã bị nhổ bán sạch nên còn đâu những cây mai to để cắt cành đem bán. Ai nói nghe cũng phải, nhưng Tết mà, phải có mai ở nhà mới may mắn chứ. Cả hai chẳng ai tin điều này, nhưng vấn đề tâm lý lại nặng hơn vì nó cứ ray rứt suốt cả năm nếu có điều gì xảy ra; vả lại chịu sao nổi mấy bà ở nhà nếu Tết mà không có mai (hay là "may" cũng vậy). Biết được điều này nên dân bán mai cũng làm tiếp thị gớm lắm. Mấy cành mai coi được thì để dưới ghe chờ bán sau, còn mấy cành trông bèo bèo thì bán trước. Ra giá xong họ bảo thà chịu mắc chút xíu mà mồng một mai nở đầy nhà, nếu không thì xui cả năm. Mấy ông chọn cái nào? Ông bạn tôi là dân doanh nghiệp cỡ bự đâu dễ mắc lừa, khuyên tôi nên ra ngoại ô vào nhà vườn mua vừa đẹp vừa tươi, lại mua tận gốc giá rẻ. Thế là mỗi người chở một cậu con cưng đi dạo mua mai. Đến nhà vườn. Mấy cây mai đã trụi lủi từ chiều qua, còn mấy cành trông khá khá thì giá tận đâu đâu. Họ cũng nói y như mình nghĩ. Mai này mua tận gốc, mới chặt nên tươi lâu, nở đúng tết… nên mắc. Cuối cùng cũng tậu được một cành vừa ý mà giá thì chưa thố lộ với ai bao giờ.

Tiếp thị giờ đây cũng đã xâm nhập khá sâu vào nghề bán hoa kiểng tết. Họ biết cả khẩu quyết "bán cái mà người ta cần chứ không phải bán cái mình có". Người ta mua hoa Tết với mong muốn có được dấu hiệu, biểu tượng may mắn trong nhà đầu năm. Vậy thì ta kiếm cái "may" để bán. Mai hay may cũng gần như nhau nên mai đắt như tôm tươi là phải. Còn mấy cây kiểng khác thì phải suy nghĩ cho ra một cái tên cho thích hợp. Ngay từ năm trước nhiều nhà vườn đã trúng mánh nhờ cây kim phát tài, nghe đâu nó vốn xuất thân từ bên Thái Lan mà tên thì lạ hoắc. Mấy ông trồng kiểng đặt cho cái tên quá hấp dẫn, quá tiếp thị nên ai cũng cố rinh về cho bằng được một chậu trong dịp tết. Cứ thế năm nay có nhiều cây lạ mà tên cũng lạ: nhưng lại rất hay, rất phù hợp với ngày đầu năm như: bát tiên, túi lộc, cây đô la, đại lợi… Mấy cây phất dũ được gọi là trường sanh, phát tài nên cũng đắt lắm. Mấy ông méo mó nghề nghiệp còn cho hay, năm nay nghề hoa kiểng còn có thêm dịch vụ cho thuê tài chính! Đó là cho thuê kiểng chưng tết, qua mùng thu lại. Dịch vụ này đang rất phát triển và được ưa chuộng. Dự đoán chắc sẽ còn có mua kiểng trả góp nữa đây.

Dẫu sao thì hoa kiểng chắc chắn sẽ cần đến thương hiệu. Ví như hôm cận tết vừa rồi, khi đi mua sắm cùng bà xã, tôi định mua một cây bát tiên có hoa màu hồng lợt, trông cũng đẹp. Nhưng bà xã trợn mắt nói nhỏ: hoa nhợt nhạt thế thì chưng tết sao được. Vậy mà hôm sau, khi về nhà tôi thấy có một chậu y chang như vậy nằm trên bàn phòng khách hẳn hoi. Vợ tôi bảo: Hóa ra, ông bán kiểng bảo tên nó là má phấn môi hồng anh ạ!